Nội dung

Lĩnh vực

Đặt câu hỏi

Cá nhân/ Doanh nghiệp/ Tổ chức(*)

Email(*)

Số điện thoại

Địa chỉ

Lĩnh vực

Tiêu đề(*)

Nội dung(*)

Mã xác nhận(*)

     

Thành lập ban Quản lý dự án theo Quy định tại Điều 23, Nghị định số 21/2021/NĐ-CP, ngày 03/3/2021

Qua nghiên cứu Điều 23, Nghị định số 15/2021/NĐ-CP ngày 03/3/2021 của Chính phủ. Hiện nay Cơ quan được giao làm Chủ đầu tư một số dự án Duy tu, sửa chữa trong tỉnh nên muốn thành lập một Ban Quản lý dự án hoạt động chuyên trách trực thuộc Chủ đầu tư để quản lý dự án các dự án nêu trên. Tôi xin hỏi Bộ xây dựng về quy trình để thành lập ban này?

Trầm Trường Thịnh (truongthinhpqlgt@gmail.com) -

Chứng chỉ hoạt động thẩm tra

Công ty chúng tôi được Bộ Xây dựng cấp chứng chỉ hạng 1, số chứng chỉ : BXD-00003945, trong chứng chỉ được cấp có ghi: Phạm vi hoạt động xây dựng: Thiết kế, thẩm tra thiết kế xây dựng công trình: Thiết kế xây dựng công trình NN&PTNT (Thủy lợi): Hạng 1.

Xin hỏi quý bộ: Nội dung ghi trong chứng chỉ nêu trên thì công ty chúng tôi có được thẩm tra công trình NN&PTNT (Thủy lợi): Hạng 1 hay không?

Công ty TNHH Tư vấn thiết kế và xây dựng Quốc Khánh (tuvanquockhanh@gmail.com) -

Năng lực hoạt động đăng tải công khai trên trang web

Vừa qua, trong quá trình tham dự các gói thầu tư vấn giám sát, một số địa phương yêu cầu Công ty chúng tôi phải có năng lực đăng tải công khai trên trang web của Cục Quản lý hoạt động xây dựng đáp ứng các yêu cầu của gói thầu.

Do trang web này hiện đăng tải không đầy đủ năng lực hoạt động của Công ty (Công ty CP Cửa Việt có Mã chứng chỉ HAN-00023147, Mã DN 0102065447)

Công ty CP Cửa Việt (mã số DN 0102065447) được cấp chứng chỉ năng lực hoạt động theo các quyết định sau của Giám đốc Sở Xây dựng Tp. Hà Nội:

Quyết định số 299/QĐ-SXD ngày 10/4/2019

Quyết định số 437/QĐ-SXD ngày 22/5/2019

Quyết định số 643/QĐ-SXD ngày 28/6/2019

Quyết định số 14/QĐ-SXD ngày 11/01/2021

Theo các quyết định trên, phạm vi hoạt động xây dựng của Công ty bao gồm các lĩnh vực:

-Khảo sát địa chất

-Quản lý dự án công nghiệp nhẹ

-Thiết kế, thẩm tra TK dân dụng, giao thông đường bộ, hạ tầng kỹ thuật, công nghiệp nhẹ

-Giám sát dân dụng, công nghiệp nhẹ

-Thi công dân dụng và công nghiệp nhẹ

Tuy nhiên, đối chiếu với thông tin trên trang web https://nangluchdxd.gov.vn, lĩnh vực hoạt động của Công ty hiện đang bị thiếu các nội dung:

-Thiết kế, thẩm tra TK dân dụng hạng II

-Giám sát dân dụng hạng II, công nghiệp nhẹ hạng III

-Thi công dân dụng hạng II và công nghiệp nhẹ hạng II

Vậy đề nghị Quý Cơ quan xem xét và cập nhật lên hệ thống. Chúng tôi đã nhiều lần liên hệ với Cục  Quản lý hoạt động xây dựng qua email và số điện thoại liên hệ trên website nhưng đều không được phản hồi.

Qua sự việc này, chúng tôi thấy có hai vấn đề:

1) Việc đăng tải thiếu thông tin năng lực sẽ ảnh hưởng tới khả năng hoạt động của các doanh nghiệp;

2) Cục  Quản lý hoạt động xây dựng cần duy trì đầy đủ mọi kênh trao đổi thông tin với cộng đồng xây dựng để phát huy hiệu quả quản lý của Cục, cần cử cán bộ trực điện thoại, trả lời email kịp thời.

Vậy kính đề nghị Bộ Xây dựng - cơ quan chủ quản của Cục Quản lý hoạt động xây dựng, xem xét, giải quyết các vấn đề trên.

Công ty Cổ phần Cửa Việt (dzungce07@gmail.com) -

Chấp thuận chủ trương đầu tư dự án đầu tư xây dựng nhà ở xã hội

Công ty tôi có các dự án nhà ở xã hội đã được UBND thành phố có Công văn chấp thuận cho đầu tư xây dựng nhà ở xã hội từ năm 2009 nhưng chưa có Quyết định chấp thuận chủ trương đầu tư (tức là chưa thực hiện theo trình tự, thủ tục đầu tư theo quy định của Luật đầu tư năm 2005 - thủ tục cấp Giấy chứng nhận đầu tư). Theo tiến độ Công ty tôi đã xây dựng hoàn thành và đưa 1 số Block vào sử dụng năm 2015, năm 2019. Trong đó, có một dự án còn 01 block và một dự án còn 02 block còn lại đang tạm dừng thi công để chờ chủ trương đầu tư, cơ cấu giá bán của UBND Thành phố áp dụng theo Nghị định 100/2015/NĐ-CP của Chính Phủ đó là “Cho phép Chủ đầu tư được phép dành 20% tổng diện tích sàn nhà ở của dự án đó để bán, cho thuê, thuê mua theo giá kinh doanh thương mại nhằm bù đắp chi phí đầu tư, góp phần giảm giá bán, giá cho thuê, thuê mua nhà ở xã hội và giảm kinh phí dịch vụ quản lý, vận hành nhà ở xã hội sau khi đầu tư”. Doanh nghiệp chúng tôi tôi áp dụng vào các dự án nhưng quá trình áp dụng từ năm 2015 đến nay gặp rất nhiều khó khăn mà chưa được chấp thuận.

- Căn cứ Điều 22 Nghị định số 118/2015/NĐ-CP ngày 12/11/2015 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Đầu tư năm 2014, trong đó trình tự thực hiện dự án đầu tư quy định như sau:

 “1. Tùy thuộc tính chất, quy mô và điều kiện của từng dự án, dự án đầu tư được thực hiện theo một hoặc một số thủ tục sau đây: 

a) Quyết định chủ trương đầu tư, cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư theo quy định của Luật Đầu tư và Nghị định này;

 b) Thành lập tổ chức kinh tế theo quy định tại Điều 44 Nghị định này đối với nhà đầu tư nước ngoài đầu tư theo hình thức thành lập tổ chức kinh tế; 

c) Thực hiện thủ tục giao đất, giao lại đất, cho thuê đất, cho thuê lại đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất theo quy định của pháp luật về đất đai (nếu có);

 d) Thực hiện thủ tục về xây dựng theo quy định của pháp luật về xây dựng (nếu có)”.

Doanh nghiệp chúng tôi đã trình hồ sơ xin cấp Quyết định chấp thuận chủ trương đầu tư của dự án để đảm bảo theo đúng Điều 22 Nghị định số 118/2015/NĐ-CP và theo Nghị định 100/NĐ-CP nhưng Cơ quan có thẩm quyền cho rằng:

Dự án của Doanh nghiệp chúng tôi đã được triển khai đầu tư xây dựng, nên việc thực hiện chấp thuận chủ trương đầu tư sau khi dự án đã triển khai thực hiện là không phù hợp theo quy định tại Điều 42 Luật Đầu tư năm 2020.

(Luật Đầu tư năm 2020 có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2021, tại khoản 1 Điều 42 Luật Đầu tư năm 2020 theo đó quy định về nguyên tắc thực hiện dự án: “Đối với dự án đầu tư thuộc diện chấp thuận chủ trương đầu tư, việc chấp thuận chủ trương đầu tư phải được thực hiện trước khi nhà đầu tư thực hiện dự án đầu tư”).

- Căn cứ khoản 4 Điều 115 Nghị định số 31/NĐ-CP ngày 26 tháng 3 năm 2021 hướng dẫn thi hành Luật Đầu tư 2020 quy định về xử lý hồ sơ hợp lệ đối với các dự án nhà ở, dự án đấu thầu lựa chọn nhà đầu tư đã nộp trước ngày Luật Đầu tư có hiệu lực thi hành:

“4. Dự án đầu tư xây dựng nhà ở, khu đô thị đã nộp hồ sơ theo quy định của pháp luật về nhà ở, đô thị và xây dựng trước ngày 01 tháng 01 năm 2021 được thực hiện như sau:

 a) Đối với dự án đã xác định được chủ đầu tư theo quy định của pháp luật có hiệu lực tại thời điểm xác định chủ đầu tư và đã nộp hồ sơ đề nghị chấp thuận chủ trương đầu tư theo quy định của Luật Nhà ở năm 2014 mà chưa được giải quyết trước ngày 01 tháng 01 năm 2021 thì được tiếp tục thực hiện thủ tục chấp thuận chủ trương đầu tư theo quy định của Luật Nhà ở năm 2014 và không phải thực hiện thủ tục chấp thuận chủ trương đầu tư theo quy định của Luật Đầu tư”.

Thứ nhất, nếu căn cứ theo hướng dẫn tại Nghị định số 31/NĐ-CP này thì dự án của chúng tôi được tiếp tục thực hiện thủ tục chấp thuận chủ trương đầu tư theo quy định của Luật Nhà ở năm 2014 và không phải thực hiện thủ tục chấp thuận chủ trương đầu tư theo quy định của Luật Đầu tư thì không hiểu vì lý do gì Cơ quan có thẩm quyền lại căn cứ vào Điều 42 Luật Đầu tư năm 2020 để cho rằng không có cơ sở cấp Giấy chứng nhận đầu tư/Quyết định chủ trương đầu tư theo quy định của Luật Đầu tư cho các dự án nêu trên.

Thứ 2, trường hợp dự án đã nộp hồ sơ theo quy định của pháp luật về nhà ở trước ngày 01/01/2021 thì xem xét tiếp tục thực hiện thủ tục chấp thuận chủ trương đầu tư theo Luật Nhà ở năm 2014 được quy định chuyển tiếp tại khoản 4 Điều 115 Nghị định số 31/NĐ-CP ngày 26/3/2021 hướng dẫn thi hành Luật Đầu tư năm 2020. Tuy nhiên, điều khoản này lại không thực hiện được bởi vì: theo quy định tại Luật Nhà ở năm 2014 được sửa đổi, bổ sung tại văn bản hợp nhất số 03/VBHN-VPQH ngày 15/7/2020 của Văn phòng Quốc hội; Nghị định số 30/2021/NĐ-CP ngày 26/3/2021 của Chính phủ đã bãi bỏ quy định chấp thuận chủ trương đầu tư dự án xây dựng nhà ở theo Luật Nhà ở, quy định việc chấp thuận chủ trương đầu tư đầu tư xây dựng nhà ở được thực hiện theo Luật Đầu tư. Tuy nhiên, việc chấp thuận chủ trương đầu tư theo Luật Đầu tư không thực hiện vì căn cứ Điều 42 Luật Đầu tư năm 2020.

 Vì vậy, Doanh nghiệp kính mong Bộ Xây dựng hướng dẫn:

1/ Việc Cơ quan có thẩm quyền viện dẫn các căn cứ nêu trên để từ chối cấp Quyết định chủ trương đầu tư theo quy định của Luật Đầu tư cho các dự án nhà ở xã hội của Doanh nghiệp chúng tôi là đúng hay sai?

2/ Nếu UBND thành phố không ban hành Quyết định chấp thuận chủ trương đầu tư đối với dự án xây dựng nhà ở xã hội của Doanh nghiệp chúng tôi thì việc áp dụng Nghị định 100/NĐ-CP của Chính Phủ sẽ như thế nào?

Phùng Thị Lan (lanphung100685@gmail.com) -

Thiếu khối lượng trong hợp đồng trọn gói

Công ty TNHH Thiết bị bảo vệ và Điện tử tin học Việt Anh chúng tôi có ký hợp đồng trọn gói với đối tác về việc thi công công trình. Gồm các hạng mục sau:

I. Hạng mục hệ thống phòng cháy chữa cháy gồm:

1. Nhà giảng đường A (thể hiện trên bản vẽ thiết kế là giai đoạn 1)

2. Nhà ký túc xá (thể hiện trên bản vẽ thiết kế là giai đoạn 1)

3. Nhà ăn (thể hiện trên bản vẽ thiết kế là giai đoạn 1)

II. Hạng mục hệ thống hút khói gồm:

1. Nhà giảng đường A (thể hiện trên bản vẽ thiết kế là giai đoạn 1)

2. Nhà giảng đường B (thể hiện trên bản vẽ thiết kế là giai đoạn 2)

3. Nhà ký túc xá (thể hiện trên bản vẽ thiết kế là giai đoạn 1)

4. Nhà ăn (thể hiện trên bản vẽ thiết kế là giai đoạn 1)

Sau khi hợp đồng được ký, công ty chúng tôi đã đi khảo sát hiện trạng mặt bằng, triển khai công việc thi công, làm việc với các đơn vị có liên quan như: Ban quản lý dự án, đơn vị tư vấn giám sát... Chúng tôi thấy khối lượng chênh lệch giữa bản vẽ thiết kế và danh mục mời thầu, danh mục hợp đồng như sau:

Hệ thống phòng cháy chữa cháy: Toàn bộ phần khối lượng tại nhà giảng đường B (bản vẽ thiết kế ghi là giai đọa 2) chưa có trong hợp đồng.

Trong danh mục hồ sơ mời thầu và hợp đồng đã ký, thiếu toàn bộ khối lượng phần phòng cháy chữa cháy của nhà giảng đường B (thể hiện trên bản vẽ thiết kế là giai đoạn 2).

Do trong bản vẽ thiết kế đi kèm hồ sơ mời thầu có thể hiện giai đoạn 1 và giai đoạn 2 (dự án này triển khai 2 giai đoạn, ở giai đoạn 2 này còn nhiều tòa nhà nữa) nên trong quá trình làm hồ sơ dự thầu, ký hợp đồng… chúng tôi chỉ quan tâm đến khối lượng thuộc giai đoạn 1.

(Chú ý: Tiên lượng mời thầu và hợp đồng không ghi giảng đường A - giai đoạn 1, giảng đường B - giai đoạn 2 mà ghi chung là “giảng đường”, bản vẽ thiết kế có thể hiện đầy đủ giai đoạn 1 và giai đoạn 2).

Qua so sánh, đối chiếu khối lượng trong hồ sơ mời thầu phần phòng cháy chữa cháy trùng khớp với số lượng thể hiện trên bản vẽ (chỉ có khối lượng của nhà giảng đường A – giai đoạn 1; không có khối lượng của nhà giảng đường B - giai đoạn 2), nên không đề xuất hay kiến nghị khối lượng thiếu.

Đến khi nhận mặt bằng để tổ chức thi công, chúng tôi thấy bên xây dựng đã triển khai xây dựng nhà giảng đường B - giai đoạn 2 cùng thời điểm với nhà giảng đường A – giai đoạn 1.

Vậy chúng tôi xin được hỏi, với hợp đồng trọn gói, công ty chúng tôi có phải thực hiện công việc thuộc lĩnh vực phòng cháy chữa cháy thiết kế cho nhà giảng đường B - giai đoạn 2 không? Nếu áp khối lượng và giá trị của phần nhà giảng đường B - giai đoạn 2 sẽ vượt tổng mức được phê duyệt (giá trị này tương đương với 13% giá trị hợp đồng).

Chúng tôi xin được hướng dẫn hướng khắc phục.

Phạm Khánh Vương (phamkhanhvuong@vietanhseitc.com.vn) -

Định mức khấu hao cọc ván thép

Hiện nay cơ quan chúng tôi đang tổ chức lập dự toán xây dựng công trình cho một số công trình thoát nước, trong đó có hạng mục ép cọc ván thép (cừ Larsen).

Theo định mức dự toán xây dựng công trình ban hành kèm theo Thông tư số 10/2019/TT-BXD ngày 29/12/2019 của Bộ Xây dựng, công tác thi công cọc chỉ hướng dẫn cách tính hao phí vật liệu cho công tác đóng cọc ván thép mà không đề cập đến hao phí cho công tác ép cọc nên chúng tôi đã sử dụng định mức hao phí của công tác đóng cọc cho công tác ép cọc.

Kính đề nghị Bộ Xây dựng cho biết công tác ép cọc ván thép có được tính khấu hao vật liệu hay không? Và việc vận dụng định mức hao phí của công tác đóng cọc cho công tác ép cọc có đúng không?

Trần Văn Trọng (trantrong79@gmail.com) -