Thông tin KHCN
 

Tại Việt Nam, nhiều loại vật liệu xanh đã phát triển tương đối nhanh trong thời gian gần đây, điển hình như: xốp cách nhiệt, tôn lợp sinh thái, gỗ ốp tường, xi măng xanh… Tuy nhiên, kính, gạch không nung là 2 loại vật liệu đạt nhiều thành công trong năm 2016, có khả năng sẽ tiếp tục phát triển mạnh hơn vào 2017. Trong đó, gạch không nung được dự đoán sẽ chiếm lĩnh thị trường gạch xây của Việt Nam trong thời gian tới.

 

Thông thường người ta hay nói đến vật liệu cách nhiệt, một trong những đóng góp của ngành về tiết kiệm năng lượng và cải thiện điều kiện sống. Tuy nhiên, trong cuộc cách mạng toàn cầu về tiết kiệm năng lượng và năng lượng hiệu quả, một trong những giải pháp cơ bản giảm chất thải môi trường chống biến đổi khí hậu thì vật liệu xây dựng (VLXD) có lẽ cũng là một lực lượng xung kích. Ngành sản xuất VLXD là ngành gắn liền với công nghệ nung đốt, nghiền sàng đá, nguyên liệu sử dụng rất nhiều năng lượng. Lượng khí thải phát ra môi trường tương đối lớn. Lượng nhiệt thừa trong quá trình sản xuất cũng góp phần làm nóng thêm bầu khí quyển. Vì vậy, cùng với tất cả các ngành công nghiệp khác, công nghiệp VLXD cũng cần hành quân, áp dụng mọi giải pháp kỹ thuật giảm chi phí năng lượng, sử dụng năng lượng hiệu quả, góp phần giảm thiểu ô nhiễm môi trường chống biến đổi khí hậu. Việt Nam hiện nay là nước tiêu tốn năng lượng nhất tại Đông Á (tính theo GDP).  

 

Một trong những vấn đề khó khăn trong chương trình phát triển vật liệu xây không nung chính là làm sao phát triển sản xuất loại vật liệu này ở tất cả các địa phương. Sau hơn 6 năm triển khai thực hiện chương trình phát triển vật liệu xây không nung theo Quyết định số 567/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, nhiều địa phương đã đạt được kết quả tốt. Tuy nhiên bên cạnh đó, một số địa phương vẫn gặp khó khăn trong việc thay đổi nhận thức của cộng đồng.  

 

Hà Nam là một vùng đất có bề dày truyền thống văn hóa, lịch sử lâu đời đặc biệt là lịch sử lấn biển lập làng. Hà Nam có một vùng đất thấp, nơi hàng trăm năm qua người dân phải qua đê lấn biển sinh sống ở dưới mực nước biển 2m. Từ năm 1334, nhờ công của 17 vị Tiên công từ phủ Hoài Đức, kinh thành Thăng Long về quai đê, lấn biển, lập làng, đến nay Hà Nam đã có bề dày lịch sử 676 năm. Từ một cù lao lau sậy của gần 600 năm về trước, Hà Nam giờ có 8 xã với chừng 6,5 vạn dân và 34 km đê biển. Qua bao thăng trầm lịch sử, thời gian và tác động của đời sống đương đại nhưng Hà Nam vẫn giữ được những nét văn hóa truyền thống của cha ông xưa với những ngôi nhà cổ, những di tích lịch sử văn hóa lâu đời.

 

Sự tiến hóa trong phương pháp quy hoạch

Từ sau Thế chiến thứ 2 tới nay, phương pháp quy hoạch cũng thay đổi theo từng thời kỳ.

 

1. Tổng quan về tình hình Quy hoạch nông thôn mới trong bối cảnh đô thị hóa tại TP.HCM

 

Lịch sử phát triển rất lâu dài của ngành vật liệu xây dựng (VLXD) Việt Nam và thế giới đồng hành với sản xuất, sử dụng gạch xây kích thước nhỏ, từ viên gạch đặc, gạch hai lỗ, bốn lỗ, sáu lỗ thậm chí mười lỗ thì vẫn là những viên gạch bé. 

 

1. Quy hoạch môi trường là gì?

Ngay từ những năm đầu của thế kỷ 19 đã có quan niệm quy hoạch môi trường rộng rãi trong công chúng. Quy hoạch môi trường được thực sự chú ý từ khi xuất hiện “làn sóng môi trường” ở Mỹ vào những năm 60, khi mà các quốc gia phát triển trên thế giới quan tâm một cách nghiêm túc tới các thông số môi trường trong quá trình xây dựng chiến lược phát triển. Tuy nhiên, phải đến những năm 90 công tác quy hoạch môi trường mới được phổ biến và triển khai rộng rãi. Có nhiều định nghĩa và quan niệm khác nhau về quy hoạch môi trường được đưa ra, nhưng chưa có một định nghĩa hay khái niệm chính thức nào được thừa nhận trên thế giới. Ở Châu Âu, thuật ngữ này thường được áp dụng cho quá trình quy hoạch sử dụng đất của khu vực. Ví dụ ở Hà Lan, quy hoạch môi trường là cầu nối quy hoạch không gian và việc lập chính sách môi trường; ngược lại, ở Bắc Mỹ cụm từ này được dùng để chỉ một phương pháp quy hoạch tổng hợp, kết hợp nhiều vấn đề và có nhiều tác dụng trong việc quản lý môi trường tổng hợp, quản lý hệ sinh thái và quản lý tổng hợp các nguồn tài nguyên.

 

Mở đầu

Trong bối cảnh các thách thức và áp lực ngày càng gia tăng trong thế kỉ 21 như thiên tai, nước biển dâng hệ quả của quá trình biến đổi khí hậu (BĐKH) đang diễn ra hiện nay trên thế giới đang đe dọa trực tiếp đến các đô thị ven biển ở nước ta. Trong công tác quy hoạch xây dựng đô thị đã bắt đầu lồng ghép các giải pháp ứng phó BĐKH và nước biển dâng thì công tác qủan lý đô thị thực hiện quy hoạch lại chưa được chú ý thích đáng. Bởi vì, chúng ta đang đều hướng tới một đô thị thích ứng với BĐKH và có khả năng chống chịu trong tương lai, cần phải có cơ chế, mô hình tổ chức quản lý đô thị thích hợp ứng phó với BĐKH và nước biển dâng. Với chiến lược này sẽ giúp các đô thị tồn tại, phát triển mạnh mẽ và bền vững. 

 

Hình thái kiến trúc đô thị bao gồm hình thái mạng lưới giao thông đô thị (giao thông đường thủy và đường bộ), và hình thái kiến trúc công trình có liên quan tới khả năng ứng phó của đô thị với các điều kiện thời tiết. Từ đặc điểm hình thành và phát triển các đô thị vùng Đồng bằng sông Cửu Long đều gần vị trí giao nhau của các con sông lớn, tức là các đô thị có yếu tố nước đi qua. Do đó, biến đổi khí hậu (BĐKH) và chế độ thủy văn các con sông lớn có tác động trực tiếp tới các đô thị trong vùng ĐBSCL. Bài viết này trình bày về những đặc điểm cơ bản hình thái kiến trúc đô thị vùng ĐBSCL tìm hiểu tác động chính từ BĐKH, từ đó xác định mối liên hệ mật thiết giữa hình thái kiến trúc đô thị với BĐKH, là một bước quan trọng trong quá trình nghiên cứu đề xuất các giải pháp ứng phó với hiện tượng BĐKH tại vùng ĐBSCL. 

    Trang   1 2 3 4 5 6 7 8 Tiếp ››

LIÊN KẾT WEBSITE