Thông tin KHCN
 
Đô thị nén - PRO AND CONTRA
12/12/18 11:07 AM

1. Xu thế tiến hóa của mô hình đô thị nén trên thế giới

Hiện nay trên diễn đàn thế giới có nhiều định nghĩa về đô thị nén, với những cách đặt trọng tâm khác nhau, cách tiếp cận khác nhau. Chưa có thống nhất tuyệt đối định nghĩa nào là được đa số học giả công nhận. Tuy nhiên, nhìn chung thì mọi người đều hình dung được đô thị nén có nghĩa là mô hình phát triển hướng tới cô đặc, tập trung các hoạt động đô thị vào một khu vực nhỏ.

Một đô thị cô đặc như vậy sẽ có một số thuộc tính nhất định:

- Mật độ cao và đa dạng công năng dẫn tới đô thị sầm uất, sống động, nhiều lựa chọn dịch vụ.

- Hệ số sử dụng hạ tầng cao hơn, hiệu quả hơn, dẫn tới khả năng cung cấp hạ tầng hiện đại như giao thông công cộng, quản lý nước, năng lượng.

- Bán kính di chuyển ngắn dẫn tới khả năng sử dụng xe đạp, đi bộ, giảm phương tiện cơ giới cá nhân, giảm tiêu thụ năng lượng, nhất là năng lượng hóa thạch, giảm ô nhiễm.

- Kiến trúc linh hoạt, không gian đa dạng, hấp dẫn, luôn cập nhật với tiến bộ về khoa học kỹ thuật, phù hợp với các loại hình sử dụng.

- Sự tập trung dẫn tới giảm giá thành dịch vụ theo nguyên tắc kinh tế số lượng, tạo ra những hiệu ứng cộng hưởng, hiệu ứng chéo về sáng tạo, sản xuất, tiêu dùng, dẫn tới tăng trưởng kinh tế.

Đô thị nén tiền hiện đại: Trong lịch sử đô thị, hình thức đô thị nén với những đặc điểm tương tự như ở trên vốn không phải là cái gì quá xa lạ, đặc biệt là ở các đô thị cổ châu Âu. Đại đa số các đô thị tiền hiện đại đều ở dạng nén, thứ nhất là vì thường có một tường thành bao quanh bảo vệ, không thể mở rộng ra được, thứ hai là phương tiện giao thông thô sơ, không cần mở rộng, nhưng đặc biệt quan trọng là vì các đô thị ít có tiềm lực kinh tế thực sự để phát triển thật nhanh, thật lớn.

Giải nén thời đầu hiện đại: Thời kỳ đầu cách mạng công nghiệp, có một sự xáo trộn rất lớn trong cấu trúc đô thị. Động cơ phát triển đô thị là công nghiệp, với tiềm năng phát triển khác hẳn thời kỳ nông nghiệp. Đô thị hóa tăng rất nhanh, với những làn sóng nhập cư lớn từ nông thôn vào đô thị. Ăngghen phê phán là điều kiện sống của giai cấp công nhân trong những đô thị công nghiệp đó rất tồi tệ, không đảm bảo. Tony Garnier chủ trương đô thị hiện đại phải được giải nén, phân vùng thành những công năng riêng như ở, sản xuất, vui chơi, mua sắm. Howark, một quy hoạch gia đầy ảnh hưởng khác của thời kỳ đầu công nghiệp, cũng cho rằng tình trạng chật chội trong những lõi đô thị trung tâm là không thể tiếp diễn được, và yêu cầu phải tạo cho những người công nhân điều kiện sống lành mạnh kiểu nhà vườn ngoại ô, trong những ngôi làng sinh thái, mặc dù vẫn dễ dàng tiếp cập được với chỗ làm việc trong nhà máy.

Siêu nén hiện đại: Le Corbusier là người chứng minh một cách rõ ràng nhất, hùng hồn nhất rằng cấu trúc đô thị nén kiểu tiền công nghiệp không phù hợp với phương thức và quy mô của đô thị mới, nên phải giải tỏa đi. Sự không phù hợp này nghiêm trọng tới mức ngay cả một kinh đô hoa lệ như Paris cũng nên bị san bằng, làm mới hoàn toàn thì mới tốt được. Ông cho rằng đô thị hiện đại cần đảm bảo không khí, ánh sáng, cây xanh, giao thông là quan trọng nhất. Trên 90% diện tích đô thị được dành cho khoảng trống, giao thông, cây xanh, vườn hoa. Các công năng đô thị được cho vào những tòa nhà cao tầng với chiều cao hàng ngàn mét. Đây cũng là một loại nén, tuy hoàn toàn không giống với các dạng đô thị nén cổ truyền.

Đô thị nén hậu hiện đại: Diễn đàn về đô thị nén thời kỳ hậu hiện đại được khơi lại, không phải là để tái tạo ra một trong những mô hình đã có trong lịch sử. Với mô hình này, người ta hy vọng tìm ra giải pháp cho một yêu cầu rất chung hơn nữa, đã được công nhận toàn cầu là nguyên tắc phát triển bền vững, trong đó chỉ rõ cần phải có sự phát triển đồng đều về cả 3 lĩnh vực kinh tế, văn hóa xã hội và môi trường. Thoạt nhìn, có thể cảm thẩy mỗi một đặc điểm của đô thị nén đều có liên quan một cách tích cực với phát triển bền vững, dựa trên một số quan điểm lý thuyết. Nhưng bởi vì trong cả 3 lĩnh vực phát triển bền vững đều có những quan điểm khác nhau, thậm chí trái chiều, nên đô thị nén không phải mô hình lý thuyết duy nhất, được công nhận hoàn toàn. Vì vậy, chúng ta không thể đơn giản áp dụng nó một cách máy móc, mà cần phải nhìn nhận vấn đề rất kỹ từ từng góc độ của phát triển bền vững.

Vấn đề thứ hai là mỗi nơi trên thế giới đều có những xuất phát điểm rất khác nhau, với những vấn đề khác nhau. Vì vậy, đô thị nén chưa chắc áp dụng được ở mọi nơi, mà nếu có áp dụng thì cũng không giống nhau ở mọi nơi. Hall và Pfeiffer chia các khu vực đô thị trên thế giới thành 3 loại chính, theo tính chất kinh tế - văn hóa xã hội - dân số:

- Các đô thị siêu tăng trưởng phi chính quy (Ấn Độ, Châu Phi, Trung Đông Hồi giáo, Nam Mỹ)

- Nhóm đô thị tăng trưởng mạnh (Đông Á, Mỹ La Tinh, Caribe, Trung Đông)

- Nhóm đô thị trưởng thành đang già yếu dần (Bắc Mỹ, Châu Âu, Nhật, Úc, một phần Đông Á)

Việc nghiên cứu mô hình đô thị nén ít nhất cần phân biệt các nhóm này, không thể có một mô hình cho tất cả.

Về kỹ thuật, những dạng công nghệ giao thông mới như xe không người lái, robot, công nghệ thông tin thời đại 4.0 cũng mở ra một thời đại mới cho những dạng đô thị nén chưa từng có trong quá khứ.

2. Mô hình đô thị nén từ góc độ phát triển bền vững

2.1. Sinh thái môi trường

a. Góc độ môi trường của phát triển bền vững

Từ góc độ môi trường thì các đô thị là thủ phạm hàng đầu trong cả bốn tội chính: tiêu hao nhiên liệu hóa thạch, phát thải CO2, làm mất cân bằng, giảm đa dạng sinh thái và ô nhiễm môi trường. Các đô thị chỉ chiếm 2% diện tích thế giới nhưng tiêu thụ 75% nguồn nhiên liệu. Ở Châu Âu, 40% năng lượng do công trình tiêu thụ. 75% ô nhiễm có xuất xứ từ môi trường đô thị, trong đó 45% là từ công trình và 30% từ giao thông. Việc phát triển đô thị ra diện rộng vừa dẫn tới mở rộng phạm vi chiếm đất, ô nhiễm vừa tạo ra những hạ tầng đường sá, mặt bằng bê tông hóa ngăn chia làm rối loạn những hệ thống sinh thái.

Vì thế, mặc dù rõ ràng hệ thống đô thị mang lại nhiều tăng trưởng kinh tế nhất, nhưng xét từ góc độ môi trường thì hệ thống này cũng là nguyên nhân chính dẫn tới tai họa. Vậy thì muốn giảm tác động của đô thị vào môi trường, điều quan trọng nhất là giảm tiêu thụ năng lượng, giảm phát thải khí nhà kính cũng như các loại ô nhiễm khác và giảm phạm vi chiếm đất của hệ thống đô thị.

b. Đóng góp của mô hình đô thị nén vào giảm nhẹ vấn đề môi trường

- Thứ nhất, chắc chắn là đô thị nén sẽ dẫn tới giảm diện tích chiếm đất của đô thị, theo đó là diện tích bê tông hóa, diện tích dành cho hạ tầng đường sá, phát tán ô nhiễm như bụi, tiếng ồn và vì vậy sẽ đỡ ảnh hưởng tới thiên nhiên hơn. Tuy nhiên, ích lợi này nếu xét tổng toàn thế giới thì chưa thực sự là lớn, vì tổng diện tích đô thị chỉ chiếm 2% diện tích đất trên thế giới. Thực ra, nông nghiệp mới là yếu tố chiếm đất và phá hoại sinh thái hàng đầu.

- Vấn đề tiêu thụ năng lượng, thực ra hiệu quả của đô thị nén chưa hoàn toàn chắc chắn. Một số tác giả như Owens, Newman, Lowe… cho rằng những khu đô thị nén có hiệu quả năng lượng tổng thể tốt hơn là mật độ thấp. Đúng là nếu nén được thì sẽ có thể giảm được một khoản năng lượng lớn cho giao thông cá nhân, nhất là ô tô. Nhưng đó mới là nhất thời chứ chưa phải gốc rễ. Bản chất của việc tiêu hao năng lượng nhiều là việc gia tăng nhu cầu tiêu dùng vô hạn của loài người. Nếu giảm chi năng lượng cho việc này thì có thể lại nghĩ ra chi cho việc khác. Đô thị nén có thể dẫn tới nguy cơ gia tăng nhu cầu tiêu dùng, khuyến khích tiêu thụ, vì thế làm gia tăng tiêu hao năng lượng. Mặt khác, việc nén nhiều người, nhiều công năng vào một chỗ vốn là phi tự nhiên, nên sẽ đòi hỏi nhiều tiêu hao năng lượng để xử lý tập trung phi tự nhiên đó, từ việc chiếu sáng, thông gió, chống bụi, chống ồn, vệ sinh môi trường…Rất nhiều loại tiêu thụ năng lượng nếu không nén thì sẽ không cần thiết hoặc có thể sử dụng các năng lượng thiên nhiên để giải quyết mà không cần qua khâu trung gian là chuyển chúng thành điện. Santamouris còn chứng minh rằng trung bình, việc tăng thêm 1% mật độ dân số sẽ dẫn tới khoảng 2,2% gia tăng về tiêu thụ năng lượng trên đầu người cao hơn khu ngoại ô. Một lập luận của những người ủng hộ đô thị nén ở phương Tây là nếu nén, đặc biệt là trộn lẫn công năng ở và công năng công cộng, thì sẽ tiết kiệm được nhiệt năng cho đô thị, vì những công trình công cộng sẽ tỏa nhiệt. Điều đó tất nhiên đúng đối với xứ lạnh, nhưng đối với vùng nóng thì hiện tượng đảo nhiệt sẽ dẫn tới gia tăng nhu cầu năng lượng.

Ngoài ra, tiêu thụ năng lượng không nhất thiết dẫn tới tăng tiêu thụ nhiên liệu hóa thạch. Nguồn năng lượng tái tạo trong thiên nhiên như mặt trời, gió, địa nhiệt, thủy triều, sinh khối…gần như vô tận và ngày càng có thể được sử dụng với giá thành giảm. Ở các nước phát triển, việc sử dụng nhiên liệu hóa thạch hiện nay chỉ còn là bài toán chính trị, kinh tế chứ không hề là cần thiết kỹ thuật. Ngay cả các phương tiện giao thông cá nhân vốn là nguồn tiêu thụ nhiên liệu hóa thạch rất lớn cũng không nhất thiết phải chạy bằng nhiên liệu này mà có thể được thay thế bằng nhiên liệu tái tạo.

- Cuối cùng là vấn đề ô nhiễm, bao gồm khí thải ồn, bụi, rác thải, nước thải… Các loại ô nhiễm này là đặc trưng của hoạt động đô thị, bao gồm sản xuất, sinh hoạt. Nếu xét một nguyên nhân chính dẫn tới ô nhiễm là ô tô thì việc nén lại chắc chắn sẽ giúp giảm số lượng ô tô, nhưng nó lại làm giảm tốc độ, tăng thời gian chạy trên đường, thời gian đứng chờ tắc đường. Vì thế, tổng lượng xăng tiêu thụ, tổng lượng khói bụi, tiếng ồn chưa chắc đã được giảm, chưa kể nó lại tập trung vào một khu vực nhỏ, có thể vượt ngưỡng chịu đựng thay vì tản ra diện rộng. Ngoài ra, để giảm ô nhiễm kiểu đó thì còn có giải pháp cải tiến phương tiện, không chạy bằng xăng dầu nữa, không khói bụi nữa, ít tiếng ồn đi, thay vì chỉ tính chuyện giảm lượng xe, tản ra hay cụm lại, bởi vì phương tiện giao thông cá nhân có nhiều lí do, không chỉ là giao thông và vì thế nếu thay bằng phương tiện công cộng thì cũng không phải là không có thiệt hại.

3. Góc độ xã hội học đô thị

a. Những nguyên lý về phát triển trong lĩnh vực xã hội học đô thị

Dưới góc độ xã hội học, một phát triển bền vững cần phải đảm bảo phát triển, tiến bộ về lĩnh vực xã hội. Nhưng thế nào là tiến bộ về xã hội?

- Tự do:

Một trong những dòng về xã hội học đô thị đại diện bởi Emile Durkheim (1858-1917) cho rằng: Con người tạo ra quan hệ mới tốt hơn trong đô thị hiện đại. Theo ông thì quan hệ làng xã là quan hệ xã hội cơ học - cứng nhắc, không thay đổi, không có quyền tự chọn. Trong khi quan hệ xã hội ở đô thị hiện đại tuy lỏng lẻo hơn nhưng là quan hệ hữu cơ - có nhiều cơ hội cho những người thực sự muốn tạo dựng quan hệ mà mình cần. Georg Simmel (1858-1918), đẩy mạnh thêm ý của Durkheim lên một tầm cao mới. Con người trong đô thị hiện đại không chỉ tạo ra được quan hệ xã hội mới, tốt hơn, mà chỉ trong đô thị hiện đại thì con người mới được tự do. Cuộc sống đô thị mà ông quan tâm là ngoài giờ làm việc. Khi làm việc, anh ta là công cụ, nhưng khi tiêu đồng tiền, anh ta làm chủ bản thân, bằng cách tự quản lý đồng tiền và thời gian của mình. Và anh ta có thể tham gia rất nhiều nhóm xã hội khác nhau. Điều mấu chốt ở đây không phải là thực tế một người tham gia vào những quan hệ gì, sử dụng những sự lựa chọn nào trong cuộc đời, mà là anh ta có cơ hội lựa chọn. Tất cả những cơ hội cho quyền tự do quyết định này cộng lại tạo nên cái gọi là Tính đô thị. Bởi tự do là một mục tiêu quan trọng hàng đầu của loài người, nên tính đô thị cũng là bước tiến rất cơ bản của phương thức tổ chức xã hội, định cư của loài người. Louis Wirth phát trển tiếp ý của Simmel và khẳng định ba chiều kích xã hội học quan trong nhất của đô thị là: tổng dân số, mật độ và mức độ đa dạng. Ba chỉ số này càng cao thì tính đặc trưng đô thị càng rõ nét. Nếu ba chỉ số này quá thấp thì không thể được coi là đô thị.

Từ cơ hội tự do cơ bản này, mới có thể xây dựng nên những khái niệm xã hội học phức tạp hơn, cao cấp hơn như dân chủ hay sáng tạo. Dân chủ là cách thức các cá thể có thể thực hiện quyền tự do của mình mà không ảnh hưởng tới tổng thể cộng đồng, đặc biệt là quyền lợi của những nhóm thiểu số. Còn sáng tạo thì rõ ràng sẽ hoàn toàn vô nghĩa và bất khả thi nếu không có tự do.

- Công bằng, bình đẳng về an sinh: Đây là nhóm tiêu chí gốc thứ hai của xã hội học. Loài người cũng như muôn loài trong tự nhiên, sinh ra đã có những cá thể với năng lực khác nhau, xuất phát điểm khác nhau. Tuy nhiên, xã hội loài người được coi là văn minh, tiến bộ hơn cầm thú ở chỗ đảm bảo được một mức độ công bằng, bình đẳng nhất định chứ không thuần túy là đấu tranh sinh tồn và kẻ mạnh sẽ thắng. Công bằng, bình đẳng đảm bảo an ninh, ổn định trong xã hội và động lực cho phát triển, bởi vì mọi người đều có cơ hội để phát triển như nhau. Cơ sở để đánh giá tính công bằng, bình đẳng trong xã hội chính là việc đảm bảo nhân quyền, mà trong đó một phần rất cơ bản như điện, nước, giáo dục, y tế, giao thông…Đặc biệt những nhóm yếu thế trong xã hội như người nghèo, trẻ em, phụ nữ, người dân tộc, nhập cư…rất cần được đảm bảo quyền bình đẳng này.

- Đảm bảo sinh kế: Quyền được đảm bảo sinh kế tối thiểu là một trong những nhân quyền cơ bản. Cũng như vấn đề an sinh xã hội, vấn đề sinh kế chủ yếu là vấn đề của người nghèo đô thị. Đặc điểm của nhóm người này là thường làm việc trong lĩnh vực phi chính quy, với thu nhập thấp, bấp bênh, trình độ thấp. Với những năng lực hoặc điều kiện sinh hoạt cụ thể của những người này, họ sẽ khó tìm được một công việc ổn định, lâu dài trong khối kinh tế chính quy. Sinh kế của họ là cơ sở quan trọng nhất để họ có được sự bình đẳng, giữ được nhân phẩm. Vì thế, nó còn được đánh giá quan trọng hơn những điều kiện sống và an sinh. Ở những xã hội phát triển, bảo hiểm xã hội rất vững vàng nên người ta có thể thất nghiệp cả đời mà vẫn được trợ cấp đủ sống một cách bình thường, thậm chí cao hơn nhiều mức bình thường ở các nước khác. Tuy nhiên, quyền được làm việc là một nhân quyền cơ bản, không thể đơn giản thay thế bằng trợ cấp xã hội. Vì vậy, một đô thị được coi là tiến bộ về lĩnh vực xã hội cần đảm bảo được là về cơ bản tất cả mọi người đều có thể làm những việc phù hợp với năng lực của mình để đóng góp cho xã hội. Việc phát triển thuận lợi khối kinh tế phi chính quy có liên quan mật thiết với tiến bộ này.

b. Đóng góp của mô hình đô thị nén vào tiến bộ xã hội:

- Tự do: Nếu xét tiêu chí tự do trong đô thị chính là cơ hội lựa chọn, với ba chỉ số lượng hóa chính là tổng dân số, mật độ và độ đa dạng thì mô hình đô thị nén chính nhằm đảm bảo yếu tố này. Vấn đề tranh cãi chỉ là ở chỗ có phải ở mọi lúc, mọi nơi, mọi lúc, tự do đều được coi là mục tiêu cao nhất, hiển nhiên nhất của xã hội loài người hay không. Một khẳng định là mức độ tự do cao luôn đi kèm với trách nhiệm lớn, và nói chung thì người càng trưởng thành, xã hội càng trưởng thành, tiến bộ thì nhu cầu tự do càng cao. Đối với nền văn minh phương Tây, nhu cầu tự do được coi là hiển nhiên, nên khái niệm đô thị nén xét từ góc độ này cũng ít có tranh cãi. Nhưng ở những xã hội phát triển thấp hơn, chắc chắn cảm nhận về độ tự do này cũng không thể sâu sắc bằng. Thậm chí, người ta còn có thể coi tự do như trên là không an toàn. Dạng vỏ bọc khép kín, để tách riêng khỏi môi trường xung quanh, có một thế giới riêng, không ai động vào được mới là tự do, chứ không phải là cơ hội được cởi mở, giao lưu, kết nối. Tất nhiên cả một xã hội trưởng thành cũng có nhu cầu riêng tư. Nhưng ở đó, người ta sẽ chỉ cần một mức riêng tư tối thiểu và muốn tối đa hóa lĩnh vực giao lưu, kết nối. Ngược lại, ở các nơi chậm phát triển, người ta sẽ luôn có mong muốn củng cố và mở rộng phạm vi vì riêng tư. Một trong những ví dụ là những cửa sắt, bảo vệ nhiều lớp cho từng gia đình thường bị đẩy lên thái quá ở các nước chậm phát triển. Ví dụ nữa là sự phát triển hàng loạt của các khu gated community. Trong cùng một xã hội đô thị thì nhóm người trưởng thành hơn, thành đạt hơn, giàu có hơn cũng sẽ đặt yêu cầu về tự do cao hơn. Vì vậy, khi nói nén thì quan trọng là mật độ và độ đa dạng của những thành phần cao cấp mới là thứ họ mong đợi, chứ không phải là nén bất kỳ. Nếu nồng độ thành phần cao cấp mà thấp thì càng nén càng đông người càng loãng chứ không phải là đặc, vì thế có nén cũng phản tác dụng.

- Công bằng, bình đẳng: Theo ý nghĩa về công bằng bình đẳng là khả năng tiếp cận dịch vụ hạ tầng cho tất cả mọi người thì đô thị nén cũng là một giải pháp tốt. Việc tất cả mọi tầng lớp, mọi nhóm xã hội cùng ở chung với nhau trong một khu đô thị đa chức năng thể hiện sự bình đẳng cao hơn hẳn việc phân chia riêng khu nghèo hay phân theo sắc tộc. Việc nén cũng dẫn tới khả năng cung cấp hạ tầng công cộng hiện đại hơn, rẻ hơn, phục vụ được cho tất cả mọi người, nhất là người nghèo. Tuy nhiên, vấn đề bình đẳng từ xưa vốn là câu chuyện của người nghèo, và vì thế người nghèo sẽ thích và cần đô thị nén hơn. Đối với người giàu, khá giả thì những tiện ích cho người nghèo không thực sự là thứ họ cần. Việc sống chung với người nghèo mang lại cho họ nhiều thứ bất tiện. Suy cho cùng thì mục đích của những nỗ lực và sự thành đạt không phải là để được bình đẳng như những người khác. Trong lịch sử đô thị, ngay từ những đô thị ban đầu như La Mã thì người giàu đã muốn ra ngoài, không ở chung với người nghèo trong trung tâm. Tất nhiên, việc chung sống cũng có cả giá trị cho người giàu, vì họ sẽ có được dịch vụ đa dạng hơn, tốt hơn, rẻ hơn. Tóm lại, đô thị nén có thể cho người giàu sự tự do và người nghèo quyền bình đẳng. Được như vậy thì nó là giải pháp mang lại tiến bộ xã hội. Nhưng nếu sự tự do của người giàu không đủ hấp dẫn mà quyền bình đẳng được đặt lên hàng đầu thì tổng thể chưa chắc đã phải là tốt.

- Sinh kế: Đô thị nén từ xa xưa vốn là một hình thức đảm bảo nhất đối với sinh kế của người nghèo đô thị. Vì thế, những khu nghèo, mật độ cao luôn luôn nằm trong vùng lõi trung tâm. Trong những thời kỳ đầu thế kỷ XX, người ta cho rằng đó là sự kiện bất thường, không nên khuyến khích, vì khu trung tâm được coi là khu đất vàng, chỉ nên cho người giàu, cửa hàng sang trọng. Vì thế, người ta luôn muốn giải tỏa các khu nghèo, khu ổ chuột ra khỏi vùng này. Nhưng cũng chính vì thế mà các khu này gần như không bao giờ được hợp thức hóa, càng trở nên tồi tàn, sập xệ. Sau này, người ta nhận thấy rằng những khu này không tốt chủ yếu vì nó không được công nhận chứ không phải là vì người nghèo ở đó. Mô hình đô thị nén tìm cách dàn xếp, tổ chức một cách hiệu quả, hợp lý không gian sống cho những người nghèo và các loại thành phần trong cùng một khu đô thị, khi đó vừa đảm bảo được sinh kế cho họ, vừa tránh được tình trạng tiêu cực của các khu ổ chuột. Như vậy, xét từ khía cạnh này, đô thị nén chắc chắn là một tiến bộ. Beatley cho rằng việc sống trong những khu đô thị thương mại là khả năng tốt nhất để tạo ra các loại sinh kế phụ đồng thời cũng có được chất lượng sống đô thị cao nhất theo nghĩa một khu đô thị sầm uất, sống động.

4. Đô thị nén nhìn từ góc độ phát triển kinh tế đô thị

a. Những nguyên lý phát triển kinh tế đô thị

- Crosselling và agglomeration:

Một trong những nguyên tắc chính của kinh tế đô thị, đặc biệt là trong lĩnh vực thương mại dịch vụ, là hiệu ứng cộng hưởng. Khi nhiều sản phẩm khác nhau được bày bán trong một khu vực đông đúc như cái chợ, sẽ có một hiệu ứng cộng hưởng làm tăng nhu cầu tiêu dùng. Ban đầu có thể người ta không định mua, nhưng vì tiện nhiều thứ gần nhau nên người ta không định mua. Có nhiều dạng tập trung thương mại như trung tâm thương mại, chợ, khu phố thương mại, phố đi bộ…

Nguyên lý tương tự cũng được cho là tồn tại trong lĩnh vực sản xuất nghiên cứu, sáng tạo. Một khu vực đông đúc, tập trung nhiều người nhiều cái đầu, sẽ có nhiều ý tưởng, khuyến khích nhau cùng phát triển, để có thể trở thành một dạng vườn ươm ý tưởng, vườn ươm doanh nghiệp. Vườn ươm ý tưởng này là một trong những động cơ rất cơ bản của phát triển kinh tế đô thị.

- Cạnh tranh thị trường: Chất lượng sản phẩm, dịch vụ đô thị rất phụ thuộc vào cạnh tranh thị trường lành mạnh. Vì thế, không chỉ số lượng dịch vụ, mà là số lượng và chất lượng cạnh tranh cần phải quan tâm. Trong nền kinh tế kế hoạch, điều quan trọng là đảm bảo trên một ngàn dân có mấy chỗ nhà trẻ, bệnh viện, dịch vụ, cửa hàng…Nhưng một hàng phở duy nhất được phép khác hẳn với một hàng phở sống sót duy nhất sau 100 hàng cạnh tranh. Tương tự đối với cả những dịch vụ xã hội như giáo dục, y tế cơ bản, nếu những dịch vụ này được xã hội hóa.

- Quy luật giá trị đất của Thuenen: Giá đất là yếu tố thị trường. Mọi can thiệp vào yếu tố này đều có nguy cơ làm mất giá trị tài nguyên. Giá đất đô thị ở một khu vực phụ thuộc nhiều nhất vào khả năng sinh lợi từ nó, chủ yếu là năng lực trở thành chợ hoặc tiếp cận tới chợ. Từ giá đất sẽ quyết định tới mật độ sử dụng. Không thể áp đặt mật độ cao ở một nơi giá trị đất thấp và sẽ làm giảm giá trị đất nếu áp đặt mật độ sử dụng thấp ở nơi có giá trị đất cao. Muốn tăng mật độ, phải tăng giá trị, mà muốn tăng giá trị, phải tăng cơ hội thị trường.

- Vòng quay bất động sản: Đa số việc phát triển ở đâu, như thế nào trong đô thị không phải kết quả của nhận thức hay quy hoạch, mà chủ yếu bị chi phối bởi vòng quay bất động sản. Lượng tiền lớn nhất trong đô thị cũng như những thế lực mạnh nhất đều tham gia vào vòng quay này. Vòng quay này có rất nhiều quy luật phức tạp, nhiều thế lực tham gia, với những tương quan lực lượng rất khác nhau ở từng nơi, từng lúc. Muốn biết tại sao một đô thị phát triển như vậy hay có thể áp dụng mô hình nào, cần phải hiểu rõ vòng quay bất động sản ở từng nơi, từng thời kỳ. Không thể áp dụng một mô hình đô thị cứng nhắc trong mọi nơi mọi lúc.

b. Đóng góp của mô hình đô thị nén vào phát triển kinh tế đô thị:

Nhìn chung, mô hình đô thị nén hỗ trợ quy luật về tập trung, cộng hưởng của tiêu dùng, dịch vụ cũng như gia tăng cạnh tranh thị trường. Tuy nhiên, những yếu tố này không phải là những lý do thực sự mạnh. Xét về tổng thể nền kinh tế đô thị, lợi thế cộng hưởng và cạnh tranh phụ thuộc nhiều vào tổng độ lớn đô thị và tổng sức mua của nó hơn là vào đô thị nén trong không gian. Người ra không cần phải ở ngay cạnh khu mua sắm mới mua nhiều hàng. Và với sự phát triển của internet, tính cạnh tranh cũng không thực sự cần thiết các mặt hàng phải được bày gần nhau trong khu vực, vì người ta có thể có nhiều cách để so sánh, đối chiếu nhanh, hiệu quả hơn.

Dưới góc độ quy luật giá đất hay vòng quay bất động sản là những thế lực kinh tế đô thị chính thì mô hình đô thị nén rất dễ sa vào tình trạng khiên cưỡng, phi kinh tế. Bởi vì nếu tin vào quy luật thị trường thì chỗ nào giá đất cao tức khắc sẽ nén, chẳng cần mô hình gì, ngược lại đã muốn áp dụng mô hình thì nghi ngờ là muốn nén ở chỗ không đáng nén.

Nói chung,  mô hình đô thị nén có xuất phát điểm từ những phản biện từ góc độ môi trường và xã hội học. Bản thân những phản biện này có cách nhìn là người ta vốn dĩ quá ưu tiên phát triển kinh tế mà coi nhẹ hai khía cạnh kia của phát triển. Vì vậy, mô hình này giúp làm cân bằng bớt, bằng cách đẩy hai trụ cột kia lên. Tuy nhiên, về góc độ kinh tế, đây chưa thực sự có thể coi như win win solution, đảm bảo chí ít giữ nguyên được phát triển kinh tế mà vẫn tiến bộ được về hai lĩnh vực kia. Chính vì thế, những phản biện từ góc độ kinh tế đô thị là phản biện nặng đô nhất trên cả lý thuyết lẫn thực tế trong việc áp dụng mô hình đô thị nén.

5. Kết luận

Nói chung mô hình đô thị nén chưa chứng minh được hiệu quả rõ ràng của nó đối với phát triển bền vững. Đối với những đô thị trưởng thành, đây từng là một mô hình tương đối được nhiều ủng hộ. Tuy nhiên từ đó đến nay, ngay cả điều kiện ở các đô thị trưởng thành cũng đã thay đổi. Trên diễn đàn lý thuyết hay giữa lý thuyết và thực tế đều đang có rất nhiều quan điểm trái chiều. Nói chung, không thể có một mô hình đô thị nén chung cho tất cả mọi nơi, mọi lúc. Mỗi đô thị, mỗi thời điểm sẽ có một điều kiện khác nhau và cần áp dụng những chiến lược, mô hình khác nhau. Nếu một đất nước hoặc một đô thị nào muốn đi theo chiến lược đô thị nén thì không phải là áp đặt được mô hình hoàn chỉnh, mà chỉ có cách nghiên cứu những kinh nghiệm thế giới về vấn đề này thông qua các best practices và từ đó cân nhắc xem học hỏi được điều gì cho trường hợp của mình.


Nguồn: Tạp chí Quy hoạch Xây dựng, Số 94/2018


Các bài mới
Các bài đã đăng

LIÊN KẾT WEBSITE