Lịch sử phát triển
 

Ngày 29-4-1958, theo Nghị quyết của kì họp thứ VIII Quốc hội khoá I do Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ tọa đã quyết định thành lập Bộ Kiến trúc - nay là Bộ Xây dựng. Từ đó đến nay, ngày 29-4 hàng năm đã trở thành ngày truyền thống của ngành Xây dựng Việt Nam.

Dưới sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước với sự nỗ lực của toàn thể cán bộ công nhân viên trong suốt chặng đường 55 năm phát triển, ngành Xây dựng đã đạt được nhiều thành tựu góp phần vào những thắng lợi to lớn của cả nước trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
 
Những thành tựu trong 55 năm qua của ngành Xây dựng gắn liền với những sự kiện trong lịch sử giải phóng dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xã hội của đất nước ta. Đặc biệt sau khi hoàn thành cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ, ngành Xây dựng đã đi đầu lòng sự nghiệp xây dựng lại đất nước. Những kết quả trong giai đoạn này đã gắn liền với sự trưởng thành nhanh chóng cả về số lượng và chất lượng của đội ngũ những người xây dựng, sự hi sinh phấn đấu của các thế hệ và sự chỉ đạo của các đồng chí lãnh đạo tiền nhiệm của ngành Xây dựng.
 
Trong quá trình phát triển, ngành Xây dựng đã đạt được những kết quả chủ yếu qua các thời kì như sau :
 

1. Giai đoạn trước năm 1975

Từ năm 1954 hoà bình lập lại, miền Bắc được giải phóng, lực lượng xây dựng đã tích cực tham gia vào việc thực hiện kế hoạch 3 năm khôi phục kinh tế 1955 - 1957, kế hoạch 3 năm phát triển, cải tạo kinh tế 1958 - 1960 và kế hoạch 5 năm lần thứ nhất 1961 - 1965. Tiếp theo là thời kì vừa xây dựng vừa trực tiếp chiến đấu chống chiến tranh phá hoại bằng không quân của giặc Mỹ đối với miền Bắc, vừa dốc sức chi viện cho chiến trường miền Nam.
Sau khi thành lập, Lãnh đạo Bộ đã nhanh chóng kiện toàn tổ chức, xây dựng đội ngũ CBCNV. Đã tổ chức các công ty xây dựng khu vực như Công ty xây dựng Hà Nội, Hải Phòng, Uông Bí, Thái Nguyên, Thanh Hoá, Nam Định, Vinh; các công trường trực thuộc và một số đơn vị chuyên sâu như Công ty Lắp máy, Công ty Thi công cơ giới, Công ty Vận tải, các xí nghiệp sản xuất gạch ngói, khai thác đá cát sỏi... trên cơ sở tuyển chọn lực lượng từ thanh niên xung phong, bộ đội chuyển ngành và lực lượng xây dựng ở các địa phương.

Ở cơ quan Bộ, ngoài các cục, vụ chức năng, đã hình thành các tổ chức nghiên cứu khoa học như: Viện Khảo sát thiết kế, Viện Quy hoạch, Cục Thiết kế các công trình công nghiệp và dân dụng...Trong thời kì này Chính phủ đã quyết định chuyển Cục Nhà đất thuộc Bộ Nội vụ và chuyển một bộ phận quản lý cùng với các cơ sở sản xuất vật liệu thuộc Tổng cục Hoá chất sang cho ngành Xây dựng phụ trách. Đến năm 1973, để thống nhất quản lý nhà nước toàn Ngành. Quốc hội và Chính phủ đã quyết định sáp nhập Bộ Kiến trúc và Uỷ ban Kiến thiết cơ bản nhà nước thành Bộ Xây dựng.

Với lực lượng và tổ chức như trên, ngành Xây dựng đã trực tiếp thi công hàng trăm công trình lớn, nhỏ như xây dựng các nhà máy điện Lào Cai,Vinh, Uông Bí, Ninh Bình, Thác Bà, các công trình hoá chất ớ khu công nghiệp Việt Trì, khu Cao - Xà - Lá, khu gang thép Thái Nguyên, Nhà máy Cơ khí trung quy mô, Phân lân Văn Điển, Phân đạm Hà Bắc, Bóng đèn phích nước Rạng Đông, Dệt 8-3, Dệt Minh Phương, Dệt Nam Định, Chè Phú Thọ, Thiếc Tĩnh Túc, Cá hộp Hải Phòng, Gỗ diêm Cầu Đuống...; xây dựng các trường đại học, trung học, bệnh viện, khách sạn kho tàng, các khu nhà ở và các công trình phúc lợi, hạ tầng kĩ thuật.... Hầu hết những công trình này được hoàn thành đúng tiến độ, đưa vào sử dụng góp phần phát triển kinh tế - văn hoá và xã hội.

Lực lượng khảo sát thiết kế được bổ sung và tăng cường nhanh đã tự thiết kế các công trình dân dụng và thiết kế bao che cho một số công trình công nghiệp nhỏ và vừa. Đặc biệt đã cùng chuyên gia Liên Xô thiết kế và xây dựng Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh, Cung Văn hoá lao động đạt chất lượng cao về kiến trúc và xây dựng.

Quy hoạch đô thị, nông thôn đã được quan tâm. Bộ đã thành lập Viện Thiết kế quy hoạch đô thị và nông thôn để đảm nhiệm việc quy hoạch xây dựng lại, xây dựng mới các đô thị sau nhiều năm không được đầu tư và bị chiến tranh tàn phá. Quy hoạch thủ đô Hà Nội đã được Bác Hồ và Bộ Chính trị trực tiếp cho ý kiến chỉ đạo từ năm 1960. Các đô thị khác được Liên Xô, Trung Quốc và các nước xã hội chủ nghĩa khác ở Đông âu cử chuyên gia sang giúp đỡ quy hoạch. Một số khu công nghiệp mới như Việt Trì, Thái Nguyên...và một số khu nhà ở mới như Kim Liên, Trung Tự Hà Nội, Quang Trung Vinh... được hình thành trong thời kì này.

Trong thời gian đế quốc Mỹ tiến hành chiến tranh phá hoại miền Bắc từ năm 1965 nhiều công trình xây dựng cơ bản phải tạm đình chỉ hoặc giãn tiến độ. Ngành đã chủ trương chuyển hướng nhiệm vụ, đưa lực lượng công nhân, cán bộ sang phục vụ chiến đấu chống chiến tranh phá hoại, đã xây dựng được 198 công trình quốc phòng như: tham gia xây dựng các sân bay Đa Phúc, Kép, Hoà Lạc, Gia Lâm, Cát Bi, Sao Vàng...; xây dựng các công trình dẫn dầu, các công trình phòng không, các công trình che chắn nhà máy điện Uổng Bí, Yên Phụ, v.v... hoặc sản xuất cầu phao, sà lan... Gần 2 vạn cán bộ công nhân đã nhập ngũ ra chiến trường và một lực lượng xe máy đã được chuyển giao cho quân đội, số còn lại vừa phục vụ thi công, vừa trực tiếp đảm nhận việc vận chuyển vũ khí đạn dược, lương thực, thực phẩm ra tiền tuyến. Hàng ngàn cán bộ, công nhân đã anh dũng hi sinh ngay trên công trình khi đang làm nhiệm vụ và trên các nẻo đường phục vụ chiến đấu. Với khẩu hiệu "tay bay, tay súng" các chiến sĩ tự vệ chiến đấu của ngành đã tham gia bảo vệ công trình, bảo vệ nhân dân và trực tiếp chiến đấu góp phần bắn rơi 6 máy bay giặc Mỹ. Trong thời kì này ngành vẫn tiếp tục tuyển chọn cán bộ công nhân để đào tạo ở trong nước và các nước anh em, nhằm duy trì và phát triển lực lượng, chuẩn bị xây dựng cơ sở vật chất kĩ thuật của CNXH sau ngày chiến thắng.

2. Giai đoạn 5 năm 1976 - 1980

Sau chiến thắng lẫy lừng của Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, đất nước hoàn toàn thống nhất, kết thúc thắng lợi trọn vẹn cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc, cả nước bước sang thời kì mới, thời kì khôi phục sau chiến tranh và xây dựng cơ sở vật chất kĩ thuật cho CNXH.

Thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ IV ngành Xây dựng đã nhanh chóng tổ chức, tập hợp sắp xếp và điều tiết lại lực lượng xây dựng trong cả nước, hình thành bộ máy quản lý và các tổ chức xây dựng ở phía Nam, tăng cường năng lực các tổ chức xây dựng ở phía Bắc để thực hiện nhiệm vụ khôi phục nền kinh tế - xã hội, đồng thời tập trung thi công các công trình trọng điểm của Nhà nước. Hàng loạt công trình quan trọng đã được khởi công xây dựng như Thuỷ điện Hòa Bình, Trị An, Xi măng Hoàng Thạch, Bỉm Sơn..., các công trình khai thác và sàng tuyển than, tuyển quặng Apatít Lào Cai. Ngành công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng cũng có những bước phát triển mới, đã tạo ra nhiều chủng loai sản phẩm đáp ứng một phần cho các công trình xây dựng. Đồng thời trong giai đoạn này, theo chủ trương của Đảng và Nhà nước ngành Xây dựng triển khai việc tiếp nhận, quản lý và cải tạo XHCN đối với các cơ sở sản xuất thuộc ngành quản lý ở các tỉnh miền Nam. Ngoài ra, ngành Xây dựng còn tham gia tích cực vào nhiệm vụ quốc phòng bảo vệ biên giới Tây Nam, biên giới phía Bắc của Tổ quốc.

Trong lĩnh vực xây dựng công nghiệp, dân dụng, với phương châm thi công tập trung dứt điểm sớm đưa các công trình vào sản xuất và sử dụng, ngành Xây dựng đã tập trung lực lượng, vật tư, phương tiện và chỉ đạo đẩy mạnh tiến độ các công trình trọng điểm then chốt của nền kinh tế. Nhiều công trình và hạng mục công trình đã hoàn thành đúng tiến độ như dây chuyền 1 Nhà máy giấy Bãi Bằng, phục hồi các nhà máy điện, xây dựng mới các nhà máy sợi, dệt Đông Nam, Thắng Lợi, Nha Trang, Vinh, Nhà máy chế biến thức ăn gia súc Hương Canh, các trạm trại giống phục vụ nông nghiệp, Bệnh viện nhi Thụy Điển, Bệnh viện Đồng Hới, Trạm vệ tinh Hoa Sen, các khu nhà ở Hà Nội, và khởi công xây dựng nhiều công trình quan trọng khác. Tổng giá trị xây lắp trong 5 năm 1976-1980 đạt 7.638 triệu đồng theo giá năm 1980, tăng 2,2 lần so với giai đoạn 1971 - 1975. Trong giai đoạn này, bình quân hàng năm tăng 14% so với năm trước.
Trong lĩnh vực sản xuất VLXD, đã khắc phục nhiều khó khăn để đẩy mạnh sản xuất, tiếp tục phát triển sản xuất VLXD tại chỗ phục vụ các công trình xây dựng. Một số sản phẩm chủ yếu đã được tập trung phát triển như đầu tư xây dựng các cơ sở xi măng lò đứng, các cơ sở gạch, đá ốp lát bán cơ giới... Các loại vật liệu xây dựng như xi măng, tấm lợp, gạch, đá đã được khôi phục và phát triển gấp 2 lần so với thời kì chiến tranh, đã giải quyết một phần khó khăn do khan hiếm nguồn vật tư, nguyên liệu trong nước. Mặc dù đã có nhiều cố gắng, song nhìn chung các cơ sở sản xuất VLXD còn mang nặng tính thủ công, chủng loại sản phẩm nghèo nàn, chất lượng chưa cao, còn lệ thuộc nhiều vào nguồn vật tư, nguyên liệu nhập ngoại.

Trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học kỹ thuật, khảo sát thiết kế công trình, thiết kế quy hoạch... đã có những bước tiến bộ đáp ứng được những yêu cẩu sản xuất, xây dựng và phát triển đô thị. Đã cùng các chuyên gia thiết kế được nhiều công trình dân dụng, công nghiệp. Việc xử lí nền móng, xử lí chống thấm, chống dội như nền móng có castơ ở Nhà máy Xi măng Bỉm Sơn, Hoàng Thạch, chống lún ở Khách sạn La Thành đã có kết quả tốt, áp dụng thành công công nghệ mới để sản xuất xi măng mác cao, xi măng bền sulfat, gạch chịu lửa, chịu axít.

3. Giai đoạn 5 năm 1981 - 1985

Giai đoạn 1981-1985 là giai đoạn có nhiều khó khăn trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Tình hình biên giới và hải đảo có nhiều diễn biến phức tạp, thiên tai liên tiếp xảy ra trên quy mô lớn ở miền Bắc và miền Trung, nguồn viện trợ từ các nước XHCN ngày càng giảm, các cơ sở sản xuất trong nước gặp nhiều khó khăn do thiếu phụ tùng vật tư kĩ thuật. Đồng thời trong giai đoạn này, nước ta đang tập trung vào việc hoàn thành công cuộc cải tạo XHCN ở các tỉnh miền Nam, tiếp tục hoàn thiện quan hệ sản xuất XHCN trong cả nước. Đây cũng là thời kì đang diễn ra sự biến đổi về cơ chế quản lí, cơ chế hành chính bao cấp dần được xoá bỏ nhưng còn tác động mạnh đến các mặt của xã hội, cơ chế quản lí mới đang hình thành, nhưng còn nhiều vấn đề phát sinh, phải tập trung nghiên cứu từ thực tiễn.

Dưới ánh sáng của Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ V, các Nghị quyết của BCH Trung ương Đảng và Chính phủ, ngành Xây dựng đã xác định rõ nhiệm vụ và những mục tiêu kinh tế xã hội mà Đảng và Nhà nước giao cho. Đã tập trung giải quyết nhiều nhiệm vụ quan trọng và hoàn thành thắng lợi các mục tiêu cơ bản của kế hoạch 5 năm 1981- 1985: góp phần tăng cường tiềm lực cho nền kinh tế cả nước. Vai trò chỉ đạo của các lực lượng quốc doanh trên các lĩnh vực xây lắp, sản xuất VLXD, quản lí phát triển nhà, quản lí đô thị ngày càng rõ nét hơn.

Trong lĩnh vực xây dựng công nghiệp, dân dụng đã tập trung cao độ phấn đấu hoàn thành các công trình trọng điểm như: 2 tổ máy nhiệt điện Phả Lại; mở rộng Nhà máy Super phốt phát Lâm Thao; hoàn thành các nhà máy Xi măng Bỉm Sơn, Hoàng Thạch, chế biến gỗ, kéo sợi, giấy Bãi Bằng, chế biến nông sản. thực phẩm,... Các công trình lớn được xây dựng như Thuỷ điện Hoà Bình, Thuỷ điện Trị An, Apatít Lào Cai, Nhà máy kính Đáp Cầu, Giấy Tân Mai, Xi măng Hà Tiên. công trình dầu khí Vũng Tàu... đã phát huy hiệu quả của các công trình then chốt trong nền kinh tế quốc dân vào kỳ kế hoạch 5 năm sau 1986 - 1990. Tốc độ tăng giá trị xây lắp trong giai đoạn này bình quân trên 25%: Năm 1982 tăng 20% so năm 1981, năm 1983 tăng 21% so năm 1982, năm 1984 tăng 28% so năm 1983, và năm 1985 tăng 36% so năm 1984. Các đơn vị xây lắp thuộc Bộ Xây dựng đảm nhận nhiều công trình trọng điểm quốc gia, tỉ trọng giá trị xây lắp các công trình trọng điểm chiếm 79,7% tổng giá trị xây lắp của Bộ.

Lĩnh vực sản xuất VLXD đã từng bước phát triển đáp ứng nhu cầu xây dựng. Sự phát triển về số lượng, chủng loại sản phẩm VLXD theo xu hướng thị trường, một số mặt hàng đã đáp ứng được nhu cầu ngày càng đa dạng của thị trường trong nước. Trình độ quản lí, chỉ đạo sản xuất quản lí kĩ thuật ở các cơ sở sản xuất VLXD đã có những bước tiến bộ nhanh chóng, nắm bắt được những tiến bộ kĩ thuật, công nghệ trong dây chuyền sản xuất hiện đại như Xi măng Bỉm Sơn, Hoàng Thạch... Chất lượng các sản phẩm VLXD được nâng lên một bước. Nhiều địa phương đã quan tâm đầu tư để khai thác nguồn tài nguyên tại chỗ làm vật liệu xây dựng. Xi măng lò đứng đã phát triển ở một số địa phương như Vĩnh Phú trước đây, Hà Tây, Huế, Quy Nhơn, Hà Tiên, Yên Bái... Tổng sản phẩm VLXD trong cả nước đã tăng gần 30% so với thời kì 1976 -1980.

4. Giai đoạn 5 năm 1986 - 1990
 
Thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ VI các Nghị quyết của Trung ương, của Chính phủ về những chủ trương và chính sách đổi mới, ngành Xây dựng đã có những chuyển biến quan trọng. Các đơn vị kinh tế cơ sở đã nâng cao ý thức tự chủ, năng động, mở rộng sản xuất kinh doanh theo hướng đa dạng hoá sản phẩm gắn với thị trường, tận dụng năng lực sẵn có, từng bước thoát ra khỏi lối làm ăn theo cơ chế bao cấp trong sản xuất kinh doanh và coi trọng hạch toán kinh doanh theo cơ chế thị trường.
 
Trong lĩnh vực xây dựng công nghiệp, dân dụng bước đầu thực hiện theo phương thức đấu thầu, mặc dù đang còn sơ khai. Tuy vậy đã có tác dụng tích cực thúc đẩy các đơn vị chú ý sắp xếp lại lực lượng lao động, tăng cường đầu tư cơ sở vật chất kĩ thuật, máy móc thi công để nâng cao chất lượng công trình và hiệu quả xây lắp. Trong giai đoạn này, tổng giá trị tài sản cố định đã tăng thêm 2.760 tỉ đồng theo giá năm 1990. Nhiều công trình quan trọng đã hoàn thành như tổ máy số 3; 4 của Nhà máy nhiệt điện Phả Lại; 4 tổ máy của Thuỷ điện Trị An; 2 tổ máy Thuỷ điện Hoà Bình; 3 tổ máy Thuỷ điện Trây Linh; Nhà máy kính Đáp Cầu, dây chuyền Xi măng Kiến Lương, Nhà máy giấy Tân Mai, các công trình phục vụ khai thác dầu khí... đã góp phần làm tăng năng lực sản xuất cho nền kinh tế quốc dân. Tốc độ tăng giá trị xây lắp bình quân hàng năm trong giai đoạn này là 3,7 lần: Năm 1987 tăng 2,52 lần so với năm 1986, năm 1988 tăng 8 lần so năm 1987, năm 1989 tăng 3,2 lần so năm 1988, năm 1990 tăng 1,14 lần so năm 1989 mặc dù số lao động giảm từ 518 ngàn người năm 1986 xuống 443 ngàn người năm 1990.
 
Trong lĩnh vực công nghiệp sản xuất VLXD, các đơn vị quốc doanh trung ương và địa phương đã tập trung đầu tư cơ sở sản xuất với dây chuyền công nghệ tiên tiến tạo ra những sản phẩm có chất lượng cao. sản lượng lớn, thể hiện vai trò chủ đạo trong nền kinh tế quốc dân. Các sản phẩm thông thường, các cơ sở sản xuất nhỏ do các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh đảm nhận, đã phần nào đáp ứng được nhu cầu đa dạng của thị trường, khắc phục được tình trạng khan hiếm VLXD. Một vấn đề quan trọng là đã tạo được không khí cạnh tranh tích cực sản xuất giữa các thành phần kinh tế, thúc đẩy việc sản xuất nhiều chủng loại sản phẩm, chất lượng tốt hơn, giá thành ngày càng hợp lí hơn. Nhờ chủ trương đúng đắn trên, tốc dộ tăng trưởng ngành vật liệu xây dựng gấp 2-3 lần so với 5 năm 1981 - 1985.
 
Trong lĩnh vực quản lí đô thị, xây dựng nhà ở và hạ tầng, thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ VI, ngành Xây dựng đã có những đổi mới trong nhận thức, trong quan điểm về phát triển đô thị. Từ việc thiết kế quy hoạch, thiết kế nhà ở... để Nhà nước đầu tư, thực hiện, chuyển sang cơ chế mới là quy hoạch xây dựng đô thị, quy hoạch các khu nhà ở để Nhà nước và nhân dân cùng làm, cùng đầu tư thực hiện. Từ quan điểm trên, công tác thiết kế quy hoạch đô thị đã được đẩy mạnh. Đến thập kỉ 90, hàng triệu mét vuông nhà ở đã được xây dựng lại, xây dựng mới, bộ mặt đô thị, cơ sở hạ tầng đô thị đã có sự chuyển biến đời sống nhân dân được cải thiện một bước.

5. Giai đoạn 5 năm 1991-1995
 
Quán triệt Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII về chiến lược ổn định phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2000 và các mục tiêu đề ra trong kế hoạch 5 năm 1991 - 1995, ngành Xây dựng đã có nhiều nỗ lực, tạo được bước ngoặt quan trọng và đúng hướng trong nhiệm vụ phát triển ngành, góp phân tích cực thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế-xã hội của cả nước.

Trong lĩnh vực xây dựng công nghiệp, dân dụng: Các đơn vị xây lắp được tổ chức sắp xếp lại theo chủ trương của Nhà nước thông qua việc thực hiện Nghị định 388 HĐBT, đã nhanh chóng ổn định tổ chức sản xuất, hình thành các doanh nghiệp nhà nước mạnh, tập trung đầu tư nâng cao năng lực thi công, đã khẳng định được vai trò chủ đạo trong cơ chế thị trường. Do có những chuyển biến tích cực về đầu tư công nghệ, về tổ chức quản lí, lực lượng xây dựng quốc doanh ở Trung ương và địa phương tuy có giảm về số lượng, nhưng giá trị tổng sản lượng vẫn tăng trưởng với nhịp độ cao. Tốc độ tăng về giá trị xây lắp năm 1991 tăng 1,6 lần so với năm 1990, năm 1992 tăng 2,0 lần so năm 1991, năm 1993 tăng 2,1 lần so năm 1992. năm 1994 tăng 1,8 lần so năm 1993 và năm 1995 tăng 1.28 lần so năm 1994. Bình quân tốc độ tăng hàng năm về giá trị sản lượng xây lắp trong toàn ngành 76,4%. Các công trình trọng điểm và quan trọng của Nhà nước như Thuỷ điện Hoà Bình, Vĩnh Sơn, Yaly, Thác Mơ, đường dây 500 KV Bắc Nam, các nhà máy xi măng Hà Tiên, Hoàng Thạch, Apatit Lào Cai,... đã được tập trung thi công đảm bảo tiến độ và chất lượng.

Trong lĩnh vực sản xuất VLXD: Tiếp tục triển khai công cuộc đổi mới, ngành VLXD đã chuyển từ việc sản xuất và phát triển theo kế hoạch định hướng, sang sản xuất hàng hoá theo cơ chế thị trường có sự quản lí của Nhà nước. Bộ Xây dựng đã chủ trương tập trung nguồn lực để phát triển sản xuất, đổi mới công nghệ những mặt hàng quan trọng như xi măng, kính xây dựng, sứ vệ sinh, gạch ốp lát và các mặt hàng có tầm chi phối thị trường. Những sản phẩm thông thường, mang tính truyền thống địa phương, kỹ thuật ít phức tạp thì khuyến khích các thành phần kinh tế bỏ vốn đầu tư nhằm sản xuất nhiều sản phẩm đáp ứng nhu cầu xây dựng. Nhờ chủ trương đúng đắn trên, việc đầu tư về VLXD đã phát triển trong toàn ngành ở các địa phương, ở một số ngành trung ương và các thành phần kinh tế. Các cơ sở xi măng lò đứng, các cơ sở gạch xây nung bằng lò tuy-nen, một số cơ sở khai thác và chế biến đá ốp lát cao cấp, một số nhà máy gạch ceramic, sứ vệ sinh được hình thành trong giai đoạn này đã góp phần đáng kể trong việc cân đối cung cầu VLXD cho xã hội. Chất lượng, mẫu mã sản phẩm mới đã được nâng lên ngang với tiêu chuẩn các nước trong khu vực, được người tiêu dùng chấp nhận, đẩy lui dần việc nhập khẩu. Kết quả 5 năm 1991-1995, sản lượng các loại VLXD đều tăng gần 2 lần so với 5 năm trước. Tốc độ tăng trưởng bình quân về giá trị tổng sản lượng của ngành VLXD đạt 17,9%.

Trong lĩnh vực đô thị và nông thôn: Nhận thức đúng đắn vai trò của đô thị, nông thôn trong thời kì đổi mới, vừa là động lực phát triển kinh tế xã hội, vừa là hạt nhân thúc đẩy quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước, ngành Xây dựng đã tạo được bước chuyến biến quan trọng về quan điểm, về nhận thức đối với các cấp các ngành trong việc đổi mới nội dung quản lí xây dựng và phát triển đô thị nông thôn.

Bộ Xây dựng đã phối hợp với các ngành liên quan đề xuất với Chính phủ ban hành các văn bản pháp quy: các cơ chế chính sách mới về xây dựng đô thị, xây dựng nhà ở, kinh doanh mua bán nhà, về giá nhà, giá đất đô thị. Đồng thời đã đổi mới nội dung công tác thiết kế quy hoạch đô thị, nông thôn, nội dung quản lí xây dựng theo quy hoạch, theo dự án, cải cách thủ tục hành chính trong cấp giấy phép xây dựng, tổ chức lại hệ thống quản lý xây dựng đô thị... Nghiên cứu quy hoạch các khu công nghiệp mới, khu dân cư mới: trình Chính phủ ban hành quy chế quản lí trong quá trình xây dựng và vận hành. Trong lĩnh vực khảo sát thiết kế đã đổi mới nội dung và tổ chức, hình thành các công ty tư vấn xây dựng đám nhiệm chức
năng đồng bộ trong các bước chuẩn bị đầu tư của các dự án xây dựng.

Trong 5 năm 1991-1995, hầu hết các đô thị từ tỉnh lị trở lên đã được điều chỉnh lại quy hoạch. Việc đầu tư xây dựng ở các đô thị tăng nhanh, trật tự, kỷ cương được lập lại. Bộ mặt kiến trúc đô thị, đường phố đô thị, vệ sinh môi trường đô thị được khang trang, sạch đẹp hơn. Nhà ở, nước uống và các dịch vụ ở các đô thị được cải thiện, nâng cấp một bước mới.

6. Giai đoạn 5 năm 1996 - 2000
 
Sau 10 năm đổi mới, ngành Xây dựng đã tạo được thế và lực để bước vào thời kì thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá theo Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ VIII đề ra. Đây là giai đoạn có nhiều chuyển biến về chất trong sự phát triển của ngành. Nhiều cơ chế chính sách được Bộ tập trung xây dựng trong giai đoạn này đã tạo nên khung pháp lí khá đồng bộ. Việc triển khai mạnh mẽ công tác quy hoạch, chiến lược, định hướng phát triển đã góp phần nâng cao hiệu quả quản lí ngành ở cấp vĩ mô. Lực lượng sản xuất đã được sắp xếp lại. Các tổng công ty, công ty mạnh đã được thành lập và củng cố, tiếp tục đầu tư chiều sâu để đổi mới công nghệ, tăng năng lực sản xuất, khả năng cạnh tranh của các sản phẩm thuộc ngành, chuẩn bị những tiền đề tiến tới hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế ở giai đoạn sau. Mặc dù ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ và những hậu quả của thiên tai trong 3 năm 1998-2000, mức tăng trưởng có chậm lại, nhưng tốc độ tăng trưởng bình quân giai đoạn 5 năm 1996-2000 của ngành công nghiệp VLXD đạt khoảng 16,9%, cao hơn tốc độ tăng trưởng bình quân chung của công nghiệp trong cả nước khoảng 13%. Giai đoạn này, riêng lĩnh vực xi măng đã được đầu tư khoảng 16.900 tỉ đồng cho các dây chuyền xi măng lò quay và 1.740 tỉ đồng để hoàn thành chương trình 3 triệu tấn xi măng lò đứng. Năng lực sản xuất xi măng, từ 6,8 triệu tấn năm 1996 lên 15,53 triệu tấn năm 2000. Năm 1996 - 1998 phải nhập 2,74 triệu tấn xi măng và 2,27 triệu tấn clinker, tốn 198 triệu USD, đến năm 1999 đã cân đối được nhu cầu và sản xuất trong nước. Lĩnh vực sản xuất gạch ốp lát ceramic và granite trong ngành Xây dựng có tốc độ phát triển cao nhất. Cuối năm 1995 có 2 nhà máy với công suất là 2,1 triệu m2, đến năm 2000 tổng công suất đã đạt gần 48,2 triệu m2, tăng gấp khoảng 23 lần. Kính xây dựng tăng 3,5 lần. Năng lực sản xuất sứ vệ sinh đến nay đã đạt 2 triệu sản phẩm/năm, tăng 5,4 lần so với năm 1996. Đặc biệt là chất lượng sản phẩm VLXD đã tương đương các sản phẩm của khu vực. Một số sản phẩm có thể thay thế, cạnh tranh với hàng ngoại nhập, bước đầu được xuất khẩu sang các nước trong khu vực, các nước Châu Âu và Trung Đông.

Trong lĩnh vực xây dựng, việc đổi mới cơ chế quản lí đầu tư và xây dựng theo hướng phân định rõ quản lí nhà nước và quản lí sản xuất kinh doanh, giảm sự can thiệp trực tiếp của cơ quan hành chính nhà nước đối với hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, tăng tính chủ động sáng tạo của các thành phần kinh tế trong xây dựng, cạnh tranh để thúc đẩy phát triển và đổi mới công nghệ. Yếu tố này đã thúc đẩy việc hình thành thị trường xây dựng có quản lí của nhà nước, khơi dậy tiềm năng của ngành.

Lĩnh vực xây lắp có tốc độ tăng trưởng bình quân 11%/năm. Bộ Xây dựng có 14 tổng công ty và nhiều công ty trực thuộc. Thời kì này các công trình lớn về hạ tầng, công nghiệp, dân dụng đã được tập trung xây dựng với tốc độ thi công nhanh gấp 2-3 lần so với thời kì 1991 - 1995. Các công trình điện lớn như Yaly, Sông Hinh, Phú Mỹ, Phả Lại 2; các công trình xi măng như Bút Sơn, Nghi Sơn, Hoàng Mai đã và đang được xây dựng, bước đầu đi vào sản xuất.

Các doanh nghiệp tư vấn đã trở thành lực lượng có vai trò không nhỏ trong sự phát triển của Ngành. Nó không chỉ là những đơn vị hoạt động nghề nghiệp mà còn là đòn bẩy mang lại hiệu quả kinh tế kĩ thuật cao cho xã hội. Hiện nay trong toàn quốc có khoảng 650 doanh nghiệp tư vấn, trong đó có khoảng 445 doanh nghiệp nhà nước, thu hút hàng vạn kiến trúc sư, kĩ sư, chuyên gia các chuyên ngành, các nhà khoa học, cán bộ quản lí của Ngành. Đội ngũ lớn mạnh nhanh chóng, đã đảm nhận được nhiều việc mà trước đây đòi hỏi phải thuê chuyên gia nước ngoài.

Công tác quản lí và phát triển đô thị đã được tập trung chỉ đạo. Bộ đã dự thảo và được Chính phủ phê duyệt Định hướng quy hoạch tổng thể phát triển đô thị Việt Nam, Định hướng phát triển cấp nước đô thị, Định hướng thoát nước đô thị Việt Nam đến năm 2020. Cho đến năm 2000 quy hoạch tổng thể xây dựng các đô thị lớn như Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Đà Nẵng đã được phê duyệt điều chỉnh, đã phê duyệt 11 đô thị loại II, 12 đô thị loại III, 400 quy hoạch xây đựng của các thị trấn, thị tứ và các cụm dân cư nông thôn. Đây là công việc có ý nghĩa hết sức lớn lao, vừa là công cụ quản lí vừa tạo điều kiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phát triển đô thị theo quy hoạch và dự án, tiết kiệm đất đai.
Lĩnh vực cấp thoát nước cũng đã và đang được đầu tư khoảng 850 triệu USD. Theo định hướng phát triển cấp nước đô thị Việt Nam đến năm 2020, tổng công suất nước phấn đấu đạt khoảng 8.866.680 m3/ngày đêm so với công suất hiện tại khoảng 2.116.550m3/ ngày đêm. Tuy nhiên, do sự phát triển bùng nổ của các đô thị nhiều năm buông lỏng công tác quản lí, sự chồng chéo chức năng nhiệm vụ của một số ngành và chưa rõ trong phân cấp quản lí đối với chính quyền địa phương, lĩnh vực phát triển đô thị vẫn còn nhiều bất cập.

Lĩnh vực phát triển nhà, đã căn bản chấm dứt chế độ bao cấp về nhà ở, giải quyết chế độ chính sách hỗ trợ về nhà ở cho người có công với cách mạng, các cán bộ lão thành, quy định về giao dịch dân sự trong lĩnh vực nhà ở phù hợp với Luật Dân sự, xây đựng chính sách đầu tư phát triển nhà cho người có thu nhập thấp, đẩy mạnh cơ chế phát triển nhà ở theo dự án nhằm huy động mọi nguồn lực vào phát triển nhà và hạn chế việc xây dựng tự phát, lấn chiếm đất công, chương trình xoá nhà ổ chuột trên kênh rạch thành phố Hồ Chí Minh, chương trình phát triển nhà ở nông thôn đồng bằng sông Cửu Long đang được tập trung chỉ đạo và đạt nhiều kết quả. Trong 5 năm 1996 - 2000, thành phố Hồ Chí Minh đã xây dựng mới và sửa chữa 13,6 triệu m2, Hà Nội xây dựng mới khoảng 1,65 triệu m2 nhà.
 
7. Giai đoạn từ năm 2000 đến nay
 
Từ năm 2001 đến nay, cùng với nền kinh tế cả nước trên đà phát triển mạnh và hội nhập sâu hơn, rộng hơn vào nền kinh tế khu vực và thế giới, ngành Xây dựng đã tổ chức thực hiện có hiệu quả các chiến lược, Quy hoạch và Kế hoạch phát triển dài hạn trong các lĩnh vực của Ngành như: Định hướng quy hoạch tổng thể phát triển các đô thị Việt Nam đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2050; Chiến lược phát triển nhà ở đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030; Quy hoạch xây dựng các vùng kinh tế trọng điểm, vùng tỉnh và các đô thị; Quy hoạch tổng thể phát triển VLXD, xi măng, cùng với các Chiến lược, định hướng về cấp nước, thoát nước, quản lý chất thải rắn đô thị...trên phạm vi cả nước với mục tiêu đảm bảo sự phát triển ngành Xây dựng đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước theo định hướng phát triển bền vững.

Ngành Xây dựng đã có những bước tiến đáng kể theo hướng hiện đại, cả trong lĩnh vực xây dựng công trình, vật liệu xây dựng, kiến trúc và quy hoạch xây dựng, phát triển đô thị và nhà ở; năng lực xây dựng công trình có nhiều tiến bộ, đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu về xây dựng, kể cả những công trình quy mô lớn, đòi hỏi chất lượng cao, công nghệ hiện đại ở trong và ngoài nước.

Hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật trong các lĩnh vực của ngành Xây dựng và nhiều cơ chế, chính sách về hoạt động xây dựng đã được tập trung xây dựng để phục vụ cho công tác quản lý nhà nước, đảm bảo phù hợp với cơ chế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Luật Xây dựng được Quốc hội khóa XI thông qua tại kỳ họp thứ 4, tháng 12/2003, có hiệu lực từ ngày 1/7/2004, là sự kiện quan trọng nhất của ngành Xây dựng Việt Nam, tạo lập khuôn khổ pháp lý và động lực thúc đẩy các hoạt động đầu tư xây dựng công trình, hình thành thị trường xây dựng với quy mô ngày càng rộng lớn, đa dạng, phong phú, đã làm cho các hoạt động xây dựng đi dần vào kỷ cương, nền nếp, chất lượng xây dựng được đảm bảo.

Cùng với Luật Xây dựng, Luật Nhà ở và Luật Kinh doanh Bất động sản, Luật Quy hoạch đô thị cũng đã được ban hành và có hiệu lực, tạo cơ sở pháp lý cho việc quản lý quy hoạch, phát triển đô thị, nhà ở và thị trường bất động sản. Trong những năm qua, Bộ Xây dựng tập trung chỉ đạo hoàn thành, trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ nhiều dự thảo văn bản quy phạm pháp luật, ngoài ra, Bộ cũng đã ban hành theo thẩm quyền nhiều Thông tư, Quyết định thuộc phạm vi chức năng quản lý của Bộ.

Tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật và cơ chế, chính sách, Bộ Xây dựng đang tập trung rà soát sửa đổi, bổ sung Luật Xây dựng, Luật Nhà ở, Luật Kinh doanh Bất động sản nghiên cứu dự thảo Luật Kiến trúc.

Trong lĩnh vực quản lý đầu tư xây dựng, cơ chế quản lý đầu tư xây dựng tiếp tục được đổi mới một cách căn bản, toàn diện theo cơ chế thị trường, phù hợp với thông lệ quốc tế, đáp ứng yêu cầu hội nhập. Hệ thống quy chuẩn xây dựng, tiêu chuẩn xây dựng được ban hành cho tất cả các lĩnh vực xây dựng, các đối tượng tiêu chuẩn hóa đã bao quát hầu hết các hoạt động xây dựng. Hệ thống định mức kinh tế - kỹ thuật trong xây dựng được hoàn thiện cơ bản theo hướng Nhà nước quản lý định mức kinh tế - kỹ thuật, thị trường quyết định giá cả để phù hợp với thực tế thi công xây dựng, tiến tới thực hiện giá cả xây dựng theo thị trường.

Chất lượng luôn là vấn đề sống còn của ngành Xây dựng, để có những công trình có tầm cỡ cho ngày hôm nay và tương lai, những năm qua, ngành Xây dựng luôn coi trọng công tác quản lý chất lượng công trình. Hầu hết các công trình, hạng mục công trình được đưa vào sử dụng trong thời gian qua đều đáp ứng yêu cầu về chất lượng, phát huy đầy đủ công năng sử dụng theo thiết kế, đảm bảo an toàn trong vận hành và phát huy tốt hiệu quả đầu tư.

Trong những năm qua, sự đổi thay trên khắp đất nước từ đô thị cho đến nông thôn có sự đóng góp không nhỏ của công tác kiến trúc, quy hoạch xây dựng. Với chủ trương quy hoạch phải đi trước một bước, công tác quy hoạch xây dựng đã được quan tâm và đẩy mạnh. Đến nay, đến nay các vùng kinh tế trọng điểm trên cả nước đã cơ bản được phủ kín quy hoạch; 100% các đô thị có quy hoạch chung được duyệt; 68% số xã đã hoàn thành việc lập quy hoạch xây dựng nông thôn mới. Cùng với việc lập các đồ án quy hoạch xây dựng các khu kinh tế, khu công nghiệp, khu đô thị mới, vùng kinh tế trọng điểm đặc biệt là việc lập đồ án quy hoạch chung xây dựng thủ đô Hà nội đến năm 2030 tầm nhìn đến năm 2050 công tác quản lý quy hoạch những năm vừa qua đã thực sự đóng góp quan trọng trong việc tạo tiền đề phát triển kinh tế xã hội của địa phương, vùng và quốc gia, là cơ sở để kế hoạch hóa đầu tư, phân bổ nguồn lực, giúp địa phương có công cụ để xây dựng và quản lý phát triển đô thị và nông thôn.

Cùng với sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, lĩnh vực phát triển đô thị đã có những bước phát triển vượt bậc, hệ thống đô thị Việt Nam đã và đang từng bước phát triển theo hướng bền vững, mở rộng về quy mô, xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật – xã hội phù hợp, đồng bộ, hiện đại, diện mạo đô thị đã có nhiều thay đổi, chất lượng đô thị ngày càng được nâng cao.

Hệ thống đô thị quốc gia với 765 đô thị hiện có đã và đang được mở rộng, phát triển nhanh cả về quy mô, số lượng và chất lượng. Các đô thị đã thực sự đóng vai trò trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa xã hội, đáp ứng nhu cầu phát triển toàn diện và bền vững đất nước, tiếp tục khẳng định vai trò là động lực phát triển kinh tế, là hạt nhân thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động ở mỗi địa phương, mỗi vùng và cả nước. Để từng bước lập lại trật tự trong quản lý phát triển đô thị, Bộ Xây dựng đang tiếp tục nghiên cứu, xây dựng Luật quản lý về phát triển đô thị.

Hàng loạt các dự án xây dựng các khu đô thị mới đã và đang được triển khai theo mô hình đầu tư xây dựng đồng bộ hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội và các công trình kiến trúc mang lại hiệu quả kinh tế, xã hội, tạo ra hướng phát triển mới cho các đô thị. Nhiều khu đô thị kiểu mẫu đã được hình thành như khu đô thị linh đàm, Phú Mỹ Hưng, Khu dân cư Hạnh phúc...

Hệ thống hạ tầng kỹ thuật đô thị được đầu tư tập trung hơn, được đầu tư bằng nhiều nguồn vốn, từng bước nâng cao chất lượng nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển của đô thị. Chất lượng phục vụ của hệ thống hạ tầng kỹ thuật đô thị được cải thiện rõ rệt. Lĩnh vực được chú ý ưu tiên là cấp nước sạch, thoát nước và vệ sinh môi trường, bước đầu đã huy động vốn đầu tư xây dựng và phát triển hạ tầng kỹ thuật đô thị từ nhiều nguồn ngoài ngân sách nhà nước. Các chương trình, dự án trong lĩnh vực hạ tầng đô thị được triển khai thực hiện đã góp phần cải tạo, nâng cấp và chỉnh trang diện mạo đô thị, từng bước cải thiện chất lượng cuộc sống đô thị. Đến nay, tỷ lệ dân đô thị được cấp nước qua hệ thống cấp nước tập trung đạt khoảng 78%; tỷ lệ thu gom và xử lý chất thải rắn đạt khoảng 83,5% tại khu vực đô thị.

Nhằm tạo ra bước đột phá trong giải quyết nhu cầu bức xúc về nhà ở cho nhân dân; tạo ra tầm nhìn dài hạn và nhiều nội dung định hướng cụ thể về phát triển nhà ở cho các nhóm đối tượng khác nhau trong xã hội; ngành Xây dựng đã trình và được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược phát triển nhà ở quốc gia đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030. Có thể nói lần đầu tiên chúng ta có được Chiến lược quốc gia về nhà ở với nhiều quan điểm và cách tiếp cận mới được Chính phủ thống nhất cao là: "Giải quyết vấn đề nhà ở là trách nhiệm của Nhà nước, của xã hội và của người dân" và "Các chỉ tiêu phát triển nhà ở, trong đó có chỉ tiêu phát triển nhà ở xã hội cho từng nhóm đối tượng phải được xác định cụ thể trong nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội của từng địa phương hàng năm và từng giai đoạn để tổ chức triển khai; đồng thời là cơ sở để cơ quan có thẩm quyền giám sát, đánh giá kết quả thực hiện", đây cũng là cơ sở để hiện thực hóa quan điểm của Đảng về phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, với mục tiêu xây dựng xã hội vì con người.

Từ năm 2001 đến nay, cùng với việc đẩy mạnh thực hiện các dự án phát triển nhà ở đô thị, các Chương trình phát triển nhà ở quốc gia như Chương trình xây dựng cụm, tuyến dân cư và nhà ở vùng thường xuyên ngập lũ đồng bằng sông Cửu Long; Chương trình hỗ trợ hộ nghèo về nhà ở; Chương trình nhà ở cho người thu nhập thấp và Chương trình nhà ở cho công nhân các khu công nghiệp... cũng được triển khai mạnh mẽ, đã góp phần làm cho diện tích nhà ở tăng nhanh, bình quân mỗi năm tăng hơn 58 triệu m2 nhà ở; chất lượng nhà ở được cải thiện, từng bước đáp ứng được nhu cầu sinh hoạt của nhân dân. Diện tích bình quân về nhà ở năm 2012 đạt khoảng 19,1m2 sàn/người.

Cùng với các khu đô thị mới, khu nhà ở với hệ thống hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội đồng bộ được xây dựng tại các đô thị, công tác cải tạo các khu chung cư cũ cũng từng bước được triển khai, góp phần thay đổi bộ mặt đô thị theo hướng văn minh, hiện đại, đưa công tác phát triển nhà ở đô thị đi vào nền nếp. Đặc biệt mô hình nhà chung cư cao tầng hiện đại có thang máy, được cung cấp dịch vụ đô thị đồng bộ đã được người dân đô thị chấp nhận, nhà chung cư cao tầng đã trở thành xu thế phát triển nhà ở chủ yếu tại các đô thị lớn, tạo điều kiện từng bước xây dựng nếp sống sinh hoạt của đô thị hiện đại.

Lĩnh vực có bước phát triển vượt bậc là công nghiệp VLXD, nhờ định hướng đúng đắn, các doanh nghiệp đã tập trung đầu tư công nghệ hiện đại, chuyển dịch cơ cấu sản phẩm theo hướng tăng các sản phẩm có chất lượng và hàm lượng khoa học công nghệ cao, thay thế nhập khẩu, hướng mạnh xuất khẩu. Nhiều sản phẩm VLXD đã có thương hiệu và chỗ đứng vững chắc trên thị trường trong nước và quốc tế như Viglacera, Fico, Vicem... các sản phẩm VLXD đã được xuất khẩu tới hơn 100 nước trên thế giới. Sản lượng xi măng đạt gần 60% triệu tấn, đáp ứng nhu cầu trong nước và dành một phần cho xuất khẩu.

Triển khai Chương trình phát triển vật liệu xây không nung, Bộ Xây dựng đã chỉ đạo các đơn vị trong ngành nghiên cứu công nghệ sản xuất bê tông khí chưng áp; nghiên cứu chế tạo dây chuyền thiết bị sản xuất gạch bê tông khí chưng áp; nghiên cứu sản xuất phụ gia cho bê tông bọt và vữa xây gạch nhẹ; chỉ đạo các địa phương xây dựng lộ trình chấm dứt hoạt động của các loại lò thủ công, lò vòng sử dụng nhiên liệu hóa thạch theo tinh thần của Chỉ thị số 10/CT-TTg ngày 26/4/2012 của Thủ tướng Chính phủ.

Việc sắp xếp, đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp nhà nước được Bộ Xây dựng xác định là nhiệm vụ trọng tâm có ý nghĩa quyết định, là khâu đột phát trong sự phát triển bền vững của ngành Xây dựng, vươn lên xứng đáng với vai trò là một ngành kinh tế mũi nhọn của đất nước. Các doanh nghiệp của Ngành được phát triển theo hướng hinh doanh đa ngành, đa lĩnh vực trên cơ sở ngành chuyên môn hóa nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế và sức cạnh tranh.

Điểm nổi bật của các doanh nghiệp ngành Xây dựng trong thời kỳ qua là tư duy nhạy bén, chủ động, sáng tạo, tiếp cận và hòa nhập nhanh với cơ chế thị trường, chú trọng chuyển dịch cơ cấu sản phẩm, thực hiện phương châm: đa dạng hóa sản phẩm, dịch vụ; đa phương hóa quan hệ và đa dạng hóa sở hữu. Đã huy động nhiều nguồn lực để đầu tư phát triển, ít lệ thuộc vào ngân sách Nhà nước, do vậy các doanh nghiệp của ngành phát triển nhanh, đã có sự thay đổi căn bản về chất, đã vươn lên trưởng thành từ "nhà thầu" trở thành "tổng thầu", từ chỗ "làm thuê" là chính, thì nay doanh nghiệp đã đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu, chủ động vươn lên thành các "chủ đầu tư" của nhiều dự án lớn, đóng góp những công trình quan trọng cho đất nước.

Nhiều doanh nghiệp đã tiếp cận nhanh với công nghệ xây dựng mới, trang bị thêm nhiều thiết bị hiện đại, từng bước đáp ứng được yêu cầu của công tác quản lý, tư vấn, thi công xây dựng những công trình quy mô lớn, hiện đại. Lực lượng thi công cầu đường, công trình ngầm của các doanh nghiệp xây dựng đã có sự phát triển vượt bậc về trình độ công nghệ tiên tiến, hiện đại và năng suất lao động. Đến nay, các doanh nghiệp xây dựng Việt Nam đã làm chủ công nghệ thiết kế, thi công các công trình cao tầng, công trình nhịp lớn, công trình ngầm, công trình trên nền địa chất phức tạp. Năng lực quản lý, kể cả quản lý hợp đồng tổng thầu EPC, quản lý đầu tư theo hình thức BOT, BT, BOO các công trình xây dựng có tiến bộ vượt bậc. Các doanh nghiệp đã đầu tư xây dựng hoặc nhận thầu xây dựng ở hầu hết các công trình trọng điểm Nhà nước, các công trình quan trọng của quốc gia, của các Bộ, ngành, địa phương, của các nhà đầu tư nước ngoài tại Việt Nam hoặc của Việt Nam đầu tư ra nước ngoài, đó là những công trình nhà cao tầng tại các khu đô thị mới như Linh Đàm, Trung Hòa - Nhân Chính, Mỹ Đình... các nhà thi đấu thế thao, công trình hầm đèo Ngang, hầm ngầm nhà cao tầng; Trung tâm Hội nghị quốc gia, Công trình khí điện đạm Cà Mau, Khu công nghiệp lọc dầu Dung Quất, Nhà Quốc hội, Thủy điện Sơn La, Lai Châu... Trong đó đáng chú ý là công trình Thủy điện Sơn La đã hoàn thành, về trước tiến độ 03 năm, đã làm lợi cho đất nước khoảng 500 triệu USD mỗi năm.

Tốc độ tăng trưởng bình quân của các doanh nghiệp thuộc Bộ Xây dựng luôn đạt ở mức cao, bình quân 16,5%/năm, dẫn đầu cả nước về các lĩnh vực sản xuất xi măng, vật liệu xây dựng, công trình hạ tầng kỹ thuật, xây dựng khu đô thị mới, khu công nghiệp, thủy điện vừa và nhỏ. Điển hình như Tổng Công ty Sông Đà về đầu tư và xây dựng thủy điện và hầm giao thông đường bộ; Tổng Công ty Lắp máy Việt Nam về gia công chế tạo, lắp máy các công trình công nghiệp trong cả nước; TCty Vinaconex, TCty Xây dựng số 1 về đa dạng hóa sản xuất kinh doanh, ứng dụng công nghệ mới trong xây dựng; TCty Xây dựng Hà Nội về các công trình dân dụng trọng điểm, quan trọng của quốc gia; TCty đầu tư phát triển nhà và đô thị về đầu tư xây dựng và quản lý khu đô thị mới; TCty đầu tư phát triển đô thị và khu công nghiệp về đầu tư, thu hút và quản lý khu công nghiệp hiệu quả cao; TCty Viglacera, TCty vật liệu xây dựng số 1 về đi tắt, đón đầu trong đầu tư công nghệ hiện đại phát triển VLXD; TCty xây dựng và phát triển hạ tầng về xây dựng hạ tầng và công trình giao thông ...

Các Viện nghiên cứu đã tích cực tham gia vào công tác phục vụ quản lý nhà nước của Bộ như: soạn thảo các văn bản quy phạm pháp luật, nghiên cứu dự thảo nhiều quy chuẩn Quốc gia, hướng các đề tài nghiên cứu vào những vấn đề bức xúc của thực tế quản lý và thi công.

Bộ đã tập trung chỉ đạo đánh giá kết quả hoạt động khoa học công nghệ ngành Xây dựng trong 10 năm (2000 -2010), tổ chức xây dựng “ Chiến lược phát triển khoa học và công nghệ ngành Xây dựng đến năm 2020, tầm nhìn 2030”. Một hệ thống các phòng thí nghiệm, các trung tâm kiểm định đã được hình thành góp phần nâng cao chất lượng công trình.

Trong lĩnh vực đào tạo, phát triển nguồn nhân lực Bộ Xây dựng đã hoàn thành việc xây dựng, ban hành Quy hoạch phát triển nguồn nhân lực đến năm 2020, định hướng đến năm 2030, là cơ sở quan trọng để quản lý và định hướng công tác đào tạo, phát triển nguồn nhân lực. Hiện nay, toàn ngành có tổng số 33 trường, trong đó 11 trường thuộc Bộ gồm: 01 Học viện; 04 trường đại học, 04 trường cao đẳng chuyên nghiệp; 01 trường trung cấp chuyên nghiệp và 01 trường cao đẳng nghề, ngoài ra còn có 22 trường trung cấp chuyên nghiệp, cao đẳng nghề và trung cấp nghề trực thuộc các doanh nghiệp và địa phương, được phân bổ trên phạm vi cả nước.

Đã đào tạo ngắn hạn bồi dưỡng các kiến thức quản lý hành chính nhà nước, các lớp chính trị cao cấp, các lớp nâng cao trình độ ngoại ngữ cho cán bộ công chức thuộc khối cơ quan nhà nước thuộc Bộ; mở các lớp đào tạo quản lý dự án đầu tư; các lớp tư vấn kiến thức định giá bất động; tư vấn giám sát; đặc biệt đang triển khai mở các lớp đào tạo, bồi dưỡng nguồn lực cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa.

Lĩnh vực hợp tác quốc tế tiếp tục được mở rộng trong mọi lĩnh vực của toàn ngành, quan hệ với nhiều nước, nhiều tổ chức quốc tế, nhằm tranh thủ những hỗ trợ về tài chính cũng như khoa học công nghệ, kinh nghiệp quản lý. Bước đầu các doanh nghiệp ngành Xây dựng phát triển ra thị trường xây dựng ở nước ngoài.

Với những thành tựu to lớn đã đạt được trong 55 năm qua kể từ ngày thành lập, Đảng, Nhà nước đã trao tặng ngành Xây dựng Huân chương Sao Vàng, Huân chương Hồ Chí Minh - Huân chương cao quý nhất của đất nước, đã phong tặng danh hiệu Tập thể, cá nhân Anh hùng lao động cho 26 tập thể và 37 cá nhân có thành tích xuất sắc trong lao động, có nhiều đóng góp trong sự phát triển của Ngành.

Qua 55 năm liên tục phát triển, ngành Xây dựng đã góp phần to lớn vào việc hoàn thành các nhiệm vụ kinh tế - xã hội của đất nước, từng bước đổi mới, phát triển và hội nhập khu vực và quốc tế. Những thành tựu đạt được đã khẳng định vai trò của Ngành Xây dựng trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, mang lại niềm tự hào cho các thế hệ tiếp nối trong ngành Xây dựng Việt Nam.

 

LIÊN KẾT WEBSITE