Lĩnh vực lấy ý kiến góp ý
Chất lượng công trình XD
Hạ tầng kỹ thuật đô thị
Hoạt động xây dựng
Khác
Khoa học công nghệ và Môi trường
Kiến trúc - Quy hoạch
Kinh tế xây dựng
Nhà ở và thị trường BĐS
Phát triển đô thị
Quy chuẩn - Tiêu chuẩn
Thanh tra
Vật liệu xây dựng

Mời bạn đọc tham gia, góp ý dự thảo Nghị định Quy định về quản lý dự án đầu tư xây dựng

2014-12-02 00:00:00.0

Để hoàn chỉnh dự thảo trước khi trình Chính phủ ban hành, Bộ Xây dựng đề nghị các cơ quan, doanh nghiệp và Bạn đọc trong, ngoài nước tham gia góp ý kiến cho dự thảo Nghị định Quy định về quản lý dự án đầu tư xây dựng.

Đề nghị các Cơ quan, Tổ chức, Doanh nghiệp và Bạn đọc điền nội dung tham gia góp ý kiến của mình vào khung lấy ý kiến dưới đây.

Các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp và Bạn đọc có thể góp ý kiến bằng thư điện tử và gửi về hộp thư ttth@moc.gov.vn và gửi bằng văn bản về Cục Quản lý hoạt động Xây dựng - Bộ Xây dựng - 37 Lê Đại Hành - Hà Nội trước ngày 30/12/2014.

Toàn văn Dự thảo Quí cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp và Bạn đọc tải về tại tệp đính kèm.

Cục Quản lý hoạt động Xây dựng
 


Tài liệu đính kèm
[Tải file đính kèm]

Các góp ý, hiến kế của bạn đọc                                                                                  In góp ý

một số Điều của Dự thao NĐ QLDA ĐTXDCT thang12-2014 của BXD 2010-10-12 15:32:36.026
Người gửi: Nguyễn Huy Thường       Email:huythuong264@gmail.com
Điện thoại: 09048 34566       Địa chỉ: 264 phố Huế Hà Nội

Điều 2: thêm khái niệm về “ gói thầu xây lắp công trình đơn giản đã có thiết kế BVTC được phê duyệt” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 23 Luật Đấu thầu số 43” để các nhà thầu XD cũng như các chủ đầu tư ngành xây dựng có căn cứ để áp dụng, thực hiện. Hiện nay không thấy quy định ở văn bản nào hướng dẫn, nếu không đưa vào Nghị định này thì khi thực hiện đấu thầu xây dựng sẽ mắc đối với các gói thầu này để thực hiện chào hàng cạnh tranh.

 

Điều 54:

Khoản 2: nên thêm quy định về năng lực giám đốc QLDA trong trường hợp DA có nhiều loại CT như sau: “ đối với DA có nhiều loại công trình, giám đốc QLDA tối thiểu phải có trình độ ĐH chuyên ngành phù hợp với công trình chính của Dự án”

 

Điều 55

Khoản 2: nên ghi ró: “ bản sao các văn bằng, chứng chỉ, chứng nhận do…. Nếu không ghi rõ như vậy thì các chứng nhận do các cơ sở đào tạo hợp pháp cấp sẽ không được đề cập, các quy định liên quan đến việc xét cho các đơn vị này được đào tạo trở nên vô nghĩa, nếu để Thông tư quy định thì ít nhất Nghị định phải viết từ Chứng nhận….

Khoản 4: nếu cá nhân không thuộc CQ, tổ chức hoặc Hội nghề nghiệp thì ai sẽ xác nhận vào hồ sơ xin cấp chứng chỉ hành nghể? Bổ sung thêm cụm từ: “ … hoặc có các chứng chỉ ,chứng nhận hợp lệ được cấp trước năm 2015

 

Điều 68

Khoản 1: khổ cuối:… trường hợp cụ thể khác do BXD quy định. Nên viết luôn ra là: “; ngoài ra, các tổ chức  đào tạo bồi dưỡng về nghiệp vụ hoạt động xây dựng khác do BXD xem xét, công nhận”. Viết vậy khi soạn Thông tư sẽ có căn cứ rõ ràng hơn.

 

Điều 79.

Khoản 4 và 5: cần viết cụ thể hơn để khẳng định việc tổ chức đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ xây dựng theo đúng chủ trương xã hội hóa nhưng kiểm soát chặt chẽ về chất lượng. Nếu quy định không đầy đủ và thiếu rõ ràng sẽ mẫu thuẫn với các quy định ở Điều 55. Cụ thể là”: các chứng nhận trước đây được cấp để làm cơ sở cho việc cấp CC TVGS, KSĐG có hướng xử lý thế nào? Nếu sử dụng thì nên có hạn cụ thể như hạn của các Chứng chỉ.

.

Nghị định về quản lý đầu tư xây dựng công trình. 2010-10-12 15:32:36.026
Người gửi: ngô văn tuấn       Email:ngotuandhh@gmail.com
Điện thoại:       Địa chỉ:

Điều 11. Thẩm quyền thẩm định dự án, thẩm định thiết kế cơ sở

1.

2. Đối với dự án đầu tư xây dựng sử dụng vốn ngân sách nhà nước:

a) Cơ quan chuyên môn về xây dựng thuộc Bộ Xây dựng, Bộ quản lý công trình xây dựng chuyên ngành theo quy định tại Điều 78 Nghị định này chủ trì thẩm định dự án nhóm A, dự án do Thủ tướng Chính phủ giao; các dự án từ nhóm B trở xuống do các Bộ, cơ quan ngang Bộ quyết định đầu tư;

b) Sở Xây dựng, Sở quản lý công trình xây dựng chuyên ngành theo quy định tại Điều 78 Nghị định này chủ trì thẩm định dự án từ nhóm B trở xuống được đầu tư xây dựng trên địa bàn hành chính của tỉnh, trừ các dự án quy định tại Điểm a, Điểm c Khoản này;

- Theo cáchhiểu của tôi về điều trên: Dự án tất cả các nhóm sử dụng vốn ngân sách nhà nước không thuộc Bộ xây dựng chuyên nghành quản lý đều chuyển về Bộ xây dựng phê duyệt (Bộ Y tế; Bộ Giáo dục và Đào tạo; Bộ Văn hóa thể thao và Du lịch ..........) như vậy số lượng quá lớn, trên địa bàn toàn quốc các thông tin quy hoạch và kinh tế có nhiều điểm khác biệt.

Các dự án các dự án từ nhóm B trở xuống do các Bộ, cơ quan ngang Bộ quyết định đầu tư nên giao cho các sở chuyên ngành có công trình nằm trên địa bàn thẩm định. Điều bày thuận lợi và phù hợp với công tác thẩm định hồ sơ thiết kế và dự toán (cả 2 việc này đều do một đơn vị thực hiện)

Từ lý do đó, Đề nghị Bộ xem xét bỏ 2 câu gạch chân nói trên ( các dự án từ nhóm B trở xuống do các Bộ, cơ quan ngang Bộ quyết định đầu tư; và  trừ các dự án quy định tại Điểm a)

 

Điều 18. Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng chuyên ngành, Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng khu vực

3. Ban quản lý dự án chuyên ngành, Ban quản lý dự án khu vực là tổ chức sự nghiệp kinh tế có tư cách pháp nhân độc lập, được sử dụng con dấu riêng, được mở tài khoản tại kho bạc nhà nước và ngân hàng thương mại theo quy định; thực hiện các chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của chủ đầu tư và trực tiếp tổ chức quản lý thực hiện các dự án; chịu trách nhiệm trước pháp luật và người quyết định đầu tư về các hoạt động của mình; quản lý vận hành, khai thác sử dụng công trình hoàn thành khi được giao.

Công việc quản lý vận hành, khai thác sử dụng công trình hoàn thành khi được giao là thuộc đơn vị sử dụng (chưa hẳn là các ban quản lý dự án) không nên đưa vào mục này,

Đề nghị xem xét bỏ phần gạch chân ( quản lý vận hành, khai thác sử dụng công trình hoàn thành khi được giao)

.

Góp ý Dự thảo Nghị định về QLDA 2010-10-12 15:32:36.026
Người gửi: Trần Minh Chiến       Email:minhchien1978@gmail.com
Điện thoại: 0905003778       Địa chỉ: Sở Nông nghiệp và PTNT Quảng Nam

          Tôi cơ bản thống nhất với nội dung của Dự thảo, Tuy nhiên cần làm rõ hôn một số nội dung sau:

          1. Về thẩm quyền thẩm định dự án, thiết kế cơ sở và Quy trình thẩm định thiết kế, dự toán xây dựng công trình:

          Theo nội dung được nêu tại khoản 6, Điều 11 và khoản 2, Điều 31 của dự thảo thì "Trường hợp không đủ điều kiện để thực hiện thẩm tra để phục vụ công tác thẩm định, cơ quan chuyên môn về xây dựng chỉ định tổ chức, cá nhân có năng lực phù hợp ...". Đề nghị, Bộ Xây dựng giải thích rõ hơn cụm từ "không đủ điều kiện để thực hiện thẩm tra để phục vụ công tác thẩm định" có được hiểu rằng tất cả các dự án, thiết kế cơ sở, thiết kế sau TKCS và dự toán phải được cơ quan chuyên môn thẩm tra trước và thẩm định sau hay không?. Theo tôi, nên điều chỉnh nội dung này thành "Trường hợp không đủ điều kiện để thực hiện công tác thẩm định, cơ quan chuyên môn về xây dựng được quyền chỉ định tổ chức, cá nhân có năng lực phù hợp ... thực hiện thẩm tra để làm cơ sở cho việc thẩm định" (tức trong quá trình thẩm định, cơ quan chuyên môn xét thấy chưa đủ điều kiện thuận lợi để tự thực hiện công tác thẩm định thì được phép chỉ định hoặc thuê cá nhân, đơn vị thẩm tra để làm cơ sở cho việc thẩm định. Trường hợp đủ điều kiện thì cơ quan chuyên môn tự thực hiện thẩm định nhưng không cần thẩm tra)

          2. Về thời điểm và giá trị nộp phí thẩm định:

          Theo nội dung được nêu tại khoản 5, Điều 12 và khoản 9, Điều 31 của Dự thảo "Chủ đầu tư có trách nhiệm nộp phí thẩm định dự án, phí thẩm định thiết kế cơ sở (thiết kế, dự toán xây dựng) khi nộp hồ sơ tại cơ quan chuyên môn về xây dựng". Nội dung này được hiểu là phí thẩm định được xác định theo tổng mức đầu tư, dự toán trước lúc thẩm định nên chưa phù hợp, đề nghị điều chỉnh thời điểm nộp phí thẩm định thành thời điểm nhận kết quả thẩm định. Cụ thể kiến nghị điều chỉnh như sau "Chủ đầu tư có trách nhiệm nộp phí thẩm định dự án, phí thẩm định thiết kế cơ sở (thiết kế, dự toán xây dựng) trước khi nhận kết quả thẩm định tại cơ quan chuyên môn về xây dựng, mức phí thẩm định ddwwocj xác định theo giá trị tổng mức đầu tư (dự toán) sau khi đã thẩm định".

.

góp ý dự thảo QLDA 2010-10-12 15:32:36.026
Người gửi: Nguyễn Văn Tiến       Email:tienxdvp@gmail.com
Điện thoại: 0989245638       Địa chỉ: vĩnh phúc

Kính gửi: Ban soạn thảo nghị định quản lý dự án

       đầu tư xây dựng - Bộ Xây dựng

 

Tên tôi là: Nguyễn Văn Tiến

Mai: Tienxdvp@gmail.com

Qua nghiên cứu dự thảo nghị định vê quản lý dự án

đầu tư xây dựng (lần 2) tôi xin tham gia ý kiến một số

vấn đề như sau:

 

1. Tại điều 18 Nghị định này xin góp ý như sau:

- Ban QLDA khi có đủ năng lực về con người, chuyên môn có được làm các loại tư vấn khác như: Thiết kế, giám sát…. Hay không cũng cần quy định rõ hơn.

- Tại khoản 5 điều 18 có quy định Ban QLDA chuyên ngành được phép QLDA cho các dự án khác khi có đủ điều kiện đề nghị làm rõ hơn các vấn đề:

+ Ban QLDA là làm tư vấn QLDA thuê cho các chủ đầu tư khác.

+ Ban QLDA có phải là đơn vị có thu hay không vì khi làm thuê tư vấn QLDA cho các dự án khác (Chủ đầu tư khác) thì có phải viết hoá đơn khi thanh toán chi phí QLDA hay không.

2. Điều 19: Nghị định này xin tham gia ý kiến như sau:

- Tại khoản 2: Cần nêu rõ hơn về các đơn vị thuộc Ban QLDA chuyên ngành và Ban QLDA có là đơn vị sự nghiệp kinh tế cấp I hay không.

3. Tại điều 22 Nghị định này xin có ý kiến như sau:

- Khoản 1 điều 22 Chủ đầu tư không có ban QLDA chuyên ngành, khu vực thì chỉ lên để quản lý đối với các dự án cải tạo, sửa chữa có tổng mức đầu tư dưới 3 tỷ đồng; cấp xã làm chủ đầu tư đối với những dự án dưới 1 tỷ.

- Nếu lớn hơn có thể thuê tư vấn QLDA hoặc Ban QLDA chuyên ngàng, khu vực?

4. Tại điều 25 Nghị định này xin có ý kiến như sau:

- Tại mục b khoản 1: Sở chuyên ngàng là cơ quan chủ trì thẩm định thiết kế kỹ thuật, dự toán, thiết kế bản vẽ thi công đối với cấp II trở xuống trên địa bàn. Theo tôi điều này cũng phải nêu rõ xem có được uỷ quyền cho cấp huyện hay không hay sở mới được làm (Giống như điều 11).

- Tại khoản 2: Tôi xin tham gia ý kiến đối với thiết kế bản vẽ thi công dự toán công trình (Thiết kế 2 bước hay 3 bước) nên để chủ đầu tư phê duyệt vì bước 1,2 người quyết định đầu tư đã phê duyệt, thẩm định bước 2,3 là cơ quan chuyên muôn của nhà nước thì không no việc thất thoát lấy phí hơn nữa để giảm thời gian, thủ tục hành chính.

5. Xin tham gia một số ý kiến khác.

- Đối với các Nghị định hướng dẫn Luận Xây dựng số 50/NĐ-CP nên thống nhất như sau:

+ Giữa các từ “thẩm định” và “thẩm tra” để tránh nhầm lẫn theo tôi thẩm định là cơ quan quản lý nhà nước, còn thẩm tra của tư vấn.

+ Chủ đầu tư được phê duyệt những gì, người quyết định đầu tư phê duyệt những gì trong thiết kế.

+ Lên tách bạch chủ đầu tư và người quyết định đầu tư để tránh cơ chế xin - cho.

- Đối với việc thành lập Ban QLDA chuyên ngành, khu vực:

  Kính mong Bộ Xây dựng nghiên cứu phương án tối ưu nhất cho việc thành lập Ban QLDA chuyên ngành hoặc Ban QLDA khu vực, tôi có ý kiến như kiến nghị như sau kính mong Bộ xem xét:

+ Đối với cấp tỉnh trở xuống theo tôi cần có Ban QLDA khu vực hoặc chuyên ngành với lý do cấp tỉnh lập Ban QLDA phục vụ cho các công trình do Tỉnh Quyết định đầu tư hoặc Tỉnh làm chủ đầu tư để trách việc các Sở, ngành nào cũng thành lập Ban QLDA làm tăng thêm biên chế và giảm khả năng về mặt quản lý nhà nước và tách bạch giữa chủ đầu tư và cơ quan quản lý nhà nước.

+ Ở cấp huyện chỉ kiện toàn lại Ban QLDA thành ban khu vực để trực tiếp QLDA các dự án trên toàn huyện để không làm tăng Biên Chế, và Quản lý chất lượng các công trình được tốt hơn khắc phục được tồn tại quản lý yếu kém và chất lượng xuống cấp của các công trình do cấp xã làm chủ đầu tư.

 

Trên đây là một số ý kiến tham gia với Ban soạn thảo nghị định.

Xin cám ơn các đồng chí!

 

.

Điều 61 & 65 2010-10-12 15:32:36.026
Người gửi: Nguyễn Quang Minh       Email:cnttconsult@gmail.com
Điện thoại:       Địa chỉ:


Điều 61.4. Phạm vi hoạt động.
Chỉ nên phân hạng với đơn vị thẩm tra thiết kế.
Không nên hạn chế cấp & loại công trình đối với đơn vị thiết kế.
Đơn vị thẩm tra thiết kế công trình phải có trách nhiệm với kết quả thẩm tra của mình.
Phân hạng đơn vị thiết kế làm mất nhiều cơ hội & chọn lựa của chủ đầu tư.
Tương tự với Điều 65.4.
 Việc phân hạng nhà thầu chỉ nên là  khuyến cáo đến CĐT, BQLDA.

Xin gửi đến BXD ý kiến phản biện nội dung như trên

.

góp ý dự thảo QLDA 2010-10-12 15:32:36.026
Người gửi: Nguyễn Văn Tiến       Email:tienxdvp@gmail.com
Điện thoại: 0989245638       Địa chỉ: vĩnh phúc

Kính gửi: Ban soạn thảo nghị định quản lý dự án

       đầu tư xây dựng - Bộ Xây dựng

 

Tên tôi là: Nguyễn Văn Tiến

Mai: Tienxdvp@gmail.com

Qua nghiên cứu dự thảo nghị định vê quản lý dự án đầu tư xây dựng

(lần 2) tôi xin tham gia ý kiến một số vấn đề như sau:

 

1. Tại điều 18 Nghị định này xin góp ý như sau:

- Ban QLDA khi có đủ năng lực về con người, chuyên môn có được làm các loại tư vấn khác như: Thiết kế, giám sát…. Hay không cũng cần quy định rõ hơn.

- Tại khoản 5 điều 18 có quy định Ban QLDA chuyên ngành được phép QLDA cho các dự án khác khi có đủ điều kiện đề nghị làm rõ hơn các vấn đề:

+ Ban QLDA là làm tư vấn QLDA thuê cho các chủ đầu tư khác.

+ Ban QLDA có phải là đơn vị có thu hay không vì khi làm thuê tư vấn QLDA cho các dự án khác (Chủ đầu tư khác) thì có phải viết hoá đơn khi thanh toán chi phí QLDA hay không.

2. Điều 19: Nghị định này xin tham gia ý kiến như sau:

- Tại khoản 2: Cần nêu rõ hơn về các đơn vị thuộc Ban QLDA chuyên ngành và Ban QLDA có là đơn vị sự nghiệp kinh tế cấp I hay không.

3. Tại điều 22 Nghị định này xin có ý kiến như sau:

- Khoản 1 điều 22 Chủ đầu tư không có ban QLDA chuyên ngành, khu vực thì chỉ lên để quản lý đối với các dự án cải tạo, sửa chữa có tổng mức đầu tư dưới 3 tỷ đồng; cấp xã làm chủ đầu tư đối với những dự án dưới 1 tỷ.

- Nếu lớn hơn có thể thuê tư vấn QLDA hoặc Ban QLDA chuyên ngàng, khu vực?

4. Tại điều 25 Nghị định này xin có ý kiến như sau:

- Tại mục b khoản 1: Sở chuyên ngàng là cơ quan chủ trì thẩm định thiết kế kỹ thuật, dự toán, thiết kế bản vẽ thi công đối với cấp II trở xuống trên địa bàn. Theo tôi điều này cũng phải nêu rõ xem có được uỷ quyền cho cấp huyện hay không hay sở mới được làm (Giống như điều 11).

- Tại khoản 2: Tôi xin tham gia ý kiến đối với thiết kế bản vẽ thi công dự toán công trình (Thiết kế 2 bước hay 3 bước) nên để chủ đầu tư phê duyệt vì bước 1,2 người quyết định đầu tư đã phê duyệt, thẩm định bước 2,3 là cơ quan chuyên muôn của nhà nước thì không no việc thất thoát lấy phí hơn nữa để giảm thời gian, thủ tục hành chính.

5. Xin tham gia một số ý kiến khác.

- Đối với các Nghị định hướng dẫn Luận Xây dựng số 50/NĐ-CP nên thống nhất như sau:

+ Giữa các từ “thẩm định” và “thẩm tra” để tránh nhầm lẫn theo tôi thẩm định là cơ quan quản lý nhà nước, còn thẩm tra của tư vấn.

+ Chủ đầu tư được phê duyệt những gì, người quyết định đầu tư phê duyệt những gì trong thiết kế.

+ Lên tách bạch chủ đầu tư và người quyết định đầu tư để tránh cơ chế xin - cho.

- Đối với việc thành lập Ban QLDA chuyên ngành, khu vực:

  Kính mong Bộ Xây dựng nghiên cứu phương án tối ưu nhất cho việc thành lập Ban QLDA chuyên ngành hoặc Ban QLDA khu vực, tôi có ý kiến như kiến nghị như sau kính mong Bộ xem xét:

+ Đối với cấp tỉnh trở xuống theo tôi cần có Ban QLDA khu vực hoặc chuyên ngành với lý do cấp tỉnh lập Ban QLDA phục vụ cho các công trình do Tỉnh Quyết định đầu tư hoặc Tỉnh làm chủ đầu tư để trách việc các Sở, ngành nào cũng thành lập Ban QLDA làm tăng thêm biên chế và giảm khả năng về mặt quản lý nhà nước và tách bạch giữa chủ đầu tư và cơ quan quản lý nhà nước.

+ Ở cấp huyện chỉ kiện toàn lại Ban QLDA thành ban khu vực để trực tiếp QLDA các dự án trên toàn huyện để không làm tăng Biên Chế, và Quản lý chất lượng các công trình được tốt hơn khắc phục được tồn tại quản lý yếu kém và chất lượng xuống cấp của các công trình do cấp xã làm chủ đầu tư.

 Tôi xin cám ơn!

.

góp ý dự thảo nghị định Quản ly đầu tư 2010-10-12 15:32:36.026
Người gửi: nguyễn trường Giang       Email:GiangsXdna@gmail.com
Điện thoại:       Địa chỉ: Nghệ an

So với nội dung dự thảo đã công bố ngày 26/9/2014, thì dự thảo lần này Bộ Xây dựng đã tiếp thu kiến góp ý của các tổ chức cá nhân, để bổ sung, điều chỉnh khắc phục được một số nội dung quan trọng. Tuy nhiên theo quan điểm cá tôi dự thảo vấn còn một số nội dung cần xem xét điều chỉnh, cụ thể:

1- Các nội dung tại điểm a khoản 4 Điều 11 và Điểm a khoản 1 điều 27: quy định Cơ quan chuyên môn của Bộ Xây dựng, và các Bộ quản lý xây dựng chuyên ngành thực hiện thẩm định dự án, thẩm định thiết kế cơ sở, thẩm định thiết kế, dự toán đến công trình cấp II đối với các công trình sử dụng vốn khác (không sử dụng vốn ngân sách nhà nước và không sử dụng vốn nhà nước ngoài ngân sách) gồm: công trình công cộng, công trình có ảnh hưởng lớn đến cảnh quan, môi trường và an toàn của cộng đồng đến quy mô công trình cấp II là không phù hợp thực tế vì các lý do sau:

- Theo khoản 2 và khoản 3 điều 11 của Nghị định này thì các công trình cấp II sử dụng vốn ngân sách hoặc vốn nhà nước ngoài ngân sách cũng có những loại công trình như vừa nêu, nhưng thẩm quyền do Sở Xây dựng, Sở quản lý công trình xây dựng chuyên ngành thực hiện. Việc phân cấp thẩm quyền khác nhau đối với thẩm định cùng loại và cùng cấp công trình, khi nguồn vốn khác nhau là không hợp lý. Trong khi đáng lẽ ra phân cấp quản lý công trình vốn ngoài nhà nước cần phải thông thoáng hơn.

- Theo nội dung dự thảo sửa đổi về Nghị định về quản lý chất lượng công trình (kể cả Nghị định 15/2013/NND-CP hiện nay đang thực hiện) thì thẩm quyền kiểm tra nghiệm thu công trình cấp II, cấp III là Sở Xây dựng, Sở quản lý công trình xây dựng chuyên ngành mà không phân biệt nguồn vốn. Như vậy việc phân cấp trong việc thẩm định dự án, thẩm định thiết kế cơ sở, thẩm định thiết kế bản vẽ thi công và công tác kiểm tra nghiệm thu công trình là thiếu tính thống nhất trong các giai đoạn của công tác quản lý chất lượng công trình;

- Thực tế công trình công cộng cấp II tại địa phương không sử dụng vốn nhà nước có số lượng rất lớn,  do đó nếu Bộ Xây dựng và các Bộ quản lý Xây dựng thực hiện trong phạm vi cả nước sẽ quá tải cho các cơ quan chuyên môn các Bộ và gây cản trở đến việc thu hút đầu tư của các địa phương, đồng thời không phù hợp với quan điểm của Chính phủ về phân cấp để cải cách thủ tục hành chính.

2- Khoản 2 điều 13: “Bộ Xây dựng quy định chi tiết về hồ sơ trình thẩm định, phê duyệt dự án đầu tư xây dựng”. Nội dung này thực tế không nhiều và không quá phức tạp, do đó đề nghị đưa luôn vào Nghị định này  (Nghị định 12/2009 cũng có nội dung này).

3-Tại điểm b khoản 1 điều 19Quy địnhcác Ban quản lý dự án chuyên ngành, Ban quản lý dự án khu vực trực thuộc Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh gồm: ban quản lý dự án đầu tư xây dựng các công trình dân dụng và công nghiệp, ban quản lý dự án đầu tư xây dựng các công trình giao thông, ban quản lý dự án đầu tư xây dựng các công trình nông nghiệp và phát triển nông thôn” là không phù hợp thực tế tại địa phương vì:

Lãnh đạo UBND tỉnh (gồm Chủ tịch và các phó Chủ tịch) không thể trực tiếp quản lý các Ban quản lý dự án; Văn phòng UBND tỉnh cũng không có chức năng và năng lực để giúp UBND tỉnh quản lý các Ban này. Nếu UBND tỉnh thành lập thêm một cơ quan quản lý nhà nước để thay mặt UBND tỉnh trực tiếp quản lý là không phù hợp với luật tổ chức HĐND và UBND hiện hành, đồng thời sẽ phát sinh biên chế và không phù hợp với chủ trương của Chính phủ là tinh giản bộ máy hành chính.

Thực tế trước đây tại nhiều địa phương các Ban quản lý dự án này đã được thành lập đặt dưới sự quản lý trực tiếp của UBND tỉnh nhưng không quản lý được do Lãnh đạo UBND tỉnh có quá nhiều việc và thiếu cơ quan giúp việc, vì vậy UBND Tỉnh đã giao cho các Sở quản lý ngành trực tiếp quản lý.

4- Về Nội dung điều kiện năng lực trong hoạt động xây dựng.

- Điều kiện năng lực hoạt động xây dựng đối với cá nhân:

Đối với cá nhân thì mức độ ổn định về năng lực trong một thời gian dài và thông thường tăng theo thời gian, vì vậy việc cấp giấy chứng chỉ năng lực cho cá nhân theo hạng và có thời hạn như nội dung dự thảo là phù hợp thực tế. Tuy nhiên các điều kiện cụ thể, đề nghị Bộ Xây dựng xem xét tăng thêm về số năm kinh nghiệm đối với hạng I và Hạng II, đồng thời xem xét đến tiêu chí trình độ bằng cấp khác nhau (Tiến sĩ, Thạc sĩ, Kỹ sư, cử nhân) tương ứng với số năm kinh nghiệm cho phù hợp.

- Điều kiện năng lực hoạt động xây dựng đối với tổ chức:

Khác với năng lực cá nhân là có mức độ ổn định cao,  Năng lực hoạt động xây dựng của tổ chức có mức độ ổn định không cao, nó phụ thuộc các yếu tố: năng lực về nhân lực trong tổ chức (bao gồm số lượng và chất lượng của từng cá nhân thuộc tổ chức); Năng lực tài chính, thiết bị của tổ chức; Uy tín thương hiệu của tổ chức. Việc cấp chứng chỉ năng lực tổ chức theo dự thảo chỉ xem xét đến tiêu chí năng lực kinh nghiệm Nhân lực trong tổ chức mà không xét đến các yếu tố còn lại là không đầy đủ. Bản thân tiêu chí Nhân lực của tổ chức trong thực tế hiện nay cũng luôn thay đổi và nó phụ thuộc rất lớn vào năng lực tài chính từng thời điểm.  Dự thảo cũng không quy định thời hạn chứng chỉ đối với tổ chức (chỉ quy định CC cá nhân là 5 năm). Vì vậy Việc cấp chứng chỉ phân hạng năng lực hoạt động xây dựng như dự thảo đối với tổ chức sẽ có những phát sinh phức tạp mới trong lĩnh vực này.

Đối với điều kiện năng lực của tổ chức, Thông tư số 11/2014/TT-BXD của Bộ Xây dựng hiện nay cơ bản là phù hợp tình hình thực tế. Cần thiết có thể bổ sung nội dung đánh giá uy tín chất lượng công trình mà tổ chức đã tham gia, làm cơ sở cho các Chủ đầu tư có thông tin có độ tin cậy cao để lựa chọn nhà thầu thực hiện các công việc trong quá trình đầu tư xây dựng công trình.

Trên đây là nội dung góp ý về dự thảo Nghị định về quản lý đầu tư xây dựng công trình. Đề nghị Bộ Xây dựng nghiên cứu tham khảo.

.

.