Lĩnh vực lấy ý kiến góp ý
Chất lượng công trình XD
Hạ tầng kỹ thuật đô thị
Hoạt động xây dựng
Khác
Khoa học công nghệ và Môi trường
Kiến trúc - Quy hoạch
Kinh tế xây dựng
Nhà ở và thị trường BĐS
Phát triển đô thị
Quy chuẩn - Tiêu chuẩn
Thanh tra
Vật liệu xây dựng

Mời bạn đọc tham gia, góp ý dự thảo Nghị định Quy định về quản lý dự án đầu tư xây dựng

2014-09-26 00:00:00.0

Để hoàn chỉnh dự thảo trước khi trình Chính phủ ban hành, Bộ Xây dựng đề nghị các cơ quan, doanh nghiệp và Bạn đọc trong, ngoài nước tham gia góp ý kiến cho dự thảo Nghị định Quy định về quản lý dự án đầu tư xây dựng.

Đề nghị các Cơ quan, Tổ chức, Doanh nghiệp và Bạn đọc điền nội dung tham gia góp ý kiến của mình vào khung lấy ý kiến dưới đây.

Các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp và Bạn đọc có thể góp ý kiến bằng thư điện tử và gửi về hộp thư ttth@moc.gov.vn và gửi bằng văn bản về Cục Quản lý hoạt động Xây dựng - Bộ Xây dựng - 37 Lê Đại Hành - Hà Nội  trước ngày 30/10/2014.

Toàn văn Dự thảo Quí cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp và Bạn đọc tải về tại tệp đính kèm.
 

Cục Quản lý hoạt động Xây dựng
 


Tài liệu đính kèm
[Tải file đính kèm]

Các góp ý, hiến kế của bạn đọc                                                                                  In góp ý

Góp ý dự thảo Nghị định quản lý dự án đầu tư xây dựng 2010-10-12 15:32:36.026
Người gửi: Đỗ Thế Ân       Email:ksankt@yahoo.com.vn
Điện thoại: 0913488711       Địa chỉ: Sở Y tế tỉnh Kon Tum

Qua nghiên cứu dự thảo Nghị định về Quản lý dự án đầu tư xây dựng, tôi xin tham gia ý kiến một số nội dung sau:

 

1. Luật Xây dựng số 50/2014/QH13 ngày 18/6/2014; ở Mục 3, Điều 62 nêu:

- Điểm 3: Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng chuyên ngành và Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng khu vực.

- Điểm 6: Chính phủ quy định chi tiết về mô hình, tổ chức và hoạt động của các ban quản lý dự án đầu tư.

Xin tham gia ý kiến: Đối với các tỉnh Tây Nguyên hiện tại các ngành lớn như Y tế.. Để tham mưu cho Sở Y tế Quản lý các dự án đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng và trang thiết bị y tế từ tuyến Bệnh viện Đa khoa tỉnh; Bệnh viện chuyên khoa tuyến tỉnh; Bệnh viện Đa khoa khu vực; Bệnh viện Đa khoa huyện, Phòng khám Đa khoa khu vực và Trạm Y tế xã. Do các dự án đầu tư xây dựng của Nghành Y tế có tính đặt thù là đầu tư cơ sở hạ tầng và trang thiết bị y tế; về nguồn vốn đầu tư thì đa dạn, Ngân sách Nhà nước và nguồn ODA. Vì vậy Ban quản lý các dự án đầu tư xây dựng Sở Y tế (BQL do chủ đầu tư thành lập) đã được thành lập từ lâu.

Vậy trong dự thảo Nghị định quản lý dự án đầu tư theo tôi Bộ Xây dựng có thể mở một ý để tạo điều kiện cho các ngành có nhiều dự án đầu tư và địa bàn quản lý dự án rộng (từ tỉnh đến xã) như Ngành Y tế, Giáo dục ở các tỉnh Tây Nguyên được thành lập Ban quản lý các dự án đầu tư xây dựng ngành.

 2.  Tại mục a, khoản 1, Điều 12 nêu: Người quyết định đầu tư gửi hồ sơ dự án đến cơ quan chuyên môn về xây dựng quy định tại Điều 11 Nghị định này để tổ chức thẩm định dự án, thẩm định thiết kế cơ sở.

Xin tham gia ý kiến: Nên giao cho Chủ đầu tư gửi hồ sơ dự án đến cơ quan chuyên môn về xây dựng quy định tại Điều 11 Nghị định này để tổ chức thẩm định thiết kế cơ sở và thẩm định dự án (vì trong quá trình thẩm định, Cơ quan thẩm định có thể yêu cầu bổ sung hồ sơ, chỉnh sữa Thiết kế dự toán).

3. Tại mục b, khoản 1, Điều 66 (Điều kiện năng lực của Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng) nêu : Những người phụ trách các lĩnh vực chuyên môn phải có chứng chỉ hành nghề hạng I phù hợp với công việc đảm nhận.

Xin tham gia ý kiến: Đối với các tỉnh Tây Nguyên, Tây Bắc…thì ít có công trình Xây dựng dân dụng nhóm A hoặc công trình cấp I nên năng lực của đội ngũ kỹ sư xây dựng để cấp chứng chỉ hành nghề: Thiết kế, Giám sát và Kỹ sư định giá hạng I là rất ít. Ở điểm này có thể ưu tiên đối với các tỉnh Tây Nguyên, Tây Bắc…(Những người phụ trách các lĩnh vực chuyên môn phải có chứng chỉ hành nghề hạng II trở lên, phù hợp với công việc đảm nhận).

4. Tại mục c, khoản 1, Điều 66 nêu: Có ít nhất 20 người có chuyên môn, nghiệp vụ phù hợp với loại dự án  chuyên ngành.

Xin tham gia ý kiến: Về biên chế của Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng theo tôi không đưa con số cứng là ít nhất 20 người vì: Tùy thuộc vào số lượng dự án, công trình của từng năm, từng giai đoạn mà biên chế của Ban quản lý dự án tăng giảm (biên chế của Ban quản lý gồm có Công chức, Viên chức và các Cán bộ hợp đồng có thời hạn). Ở điểm này có thể quy định số lượng cụ thể cho từng loại Ban quản lý (ví dụ: Ban quản lý các dự án đầu tư xây dựng ngành có thể ít nhất 10 người; Ban quản lý các dự án đầu tư xây dựng chuyên ngành có thể ít nhất 15 người và Ban quản lý các dự án đầu tư xây dựng khu vực có thể ít nhất 20 người).  

  Trên là nội dung góp ý kiến, Kính mong Ban soạn thảo Nghị định của Quí Bộ quan tâm. Trong khi chờ đợi kết quả tôi xin chân thành cảm ơn./.

                                                                          Người góp ý

                                                                                Đỗ Thế Ân

.

Góp ý vào dự thảo Nghị định về quản lý dự án 2010-10-12 15:32:36.026
Người gửi: Phạm Tiến Dũng       Email:dungtienna@gmail.com
Điện thoại: 0988506122       Địa chỉ: Vinh- Nghệ An

       Sau khi nghiên cứu dự thảo, xin được góp ý vào nội dung tại Điều 21. Chủ đầu tư trực tiếp quản lý dự án một số ý kiến như sau:

      - Sửa chữa công trình là một công việc thuộc hoạt động bảo trì công trình xây dựng, vì vậy đề nghị sửa cụm từ “dự án cải tạo, sửa chữa” tại Khoản 1. Điều 21 thành “ dự án cải tạo, nâng cấp” để không mâu thuẫn với phạm vi điều chỉnh nêu tại Khoản 1. Điều 1 (hoạt động bảo trì công trình xây dựng được quy định tại nghị định khác).

         Còn trường hợp, nếu việc tổ chức quản lý dự án sửa chữa của hoạt động bảo trì công trình cần phải đưa vào Nghị định này để có sự thống nhất chung về tổ chức quản lý dự án thì nên bổ sung điều khoản quy định riêng và cho phép chủ sở hữu hoặc người sử dụng công trình (cũng là chủ đầu tư) được thành lập Ban quản lý dự án bảo trì công trình chuyên ngành để quản lý, kiểm tra, giám sát vì hoạt động bảo trì, nhất là bảo trì công trình đê điều, hồ, đập, cầu, đường, cảng v.v. có đặc thù riêng khác với hoạt động xây dựng cơ bản, được thực hiện thường xuyên và định kỳ.

            - Đề có sự thống nhất với quy định tại Điều 63.Hạn mức của gói thầu quy mô nhỏ của  Nghị định 63/2014/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều của Luật đấu thầu về lựa chọn nhà thầu, kiến nghị tăng hạn mức Tổng mức đầu tư dự án quy mô nhỏ lên dưới 20 tỷ đồng.

       - Tại khoản 2. quy định “Cá nhân tham gia dự án làm việc theo chế độ kiêm nhiệm” kiến nghị chỉnh sửa bổ sung như sau “Cá nhân tham gia dự án làm việc theo chế độ chuyên trách hoặc kiêm nhiệm” để tạo điều kiện cho chủ đầu tư tổ chức quản lý dự án hiệu quả, chất lượng hơn.

 

          Xin trân trọng cảm ơn!

.

Góp ý dự thảo về Nghị định QLDA 2010-10-12 15:32:36.026
Người gửi: Trần Minh Chiến       Email:minhchien1978@gmail.com
Điện thoại: 0905003778       Địa chỉ: Sở Nông nghiệp và PTNT Quảng Nam

Về chủ trương đầu tư đối với dự án sử dụng vốn doanh nghiệp Nhà nước: Đề nghị bổ sung nội dung về chủ trương đầu tư đối với dự án sử dụng vốn doanh nghiệp nhà nước, (Công ty TNHH Một thành viên, 100% vốn nhà nước). Đối với dự án sử dụng vốn này thì cơ quan nào quyết định chủ trương và quy mô đầu tư?. 

.

Góp ý dự thảo về Nghị định QLDA 2010-10-12 15:32:36.026
Người gửi: Trần Minh Chiến       Email:minhchien1978@gmail.com
Điện thoại: 0905003778       Địa chỉ: Sở Nông nghiệp và PTNT Quảng Nam

1. Khoản 3, Điều 29 của dự thảo "3. Trường hợp cơ quan chuyên môn về xây dựng chỉ định tổ chức, cá nhân tư vấn thẩm tra thiết kế, dự toán xây dựng theo quy định tại Khoản 4 Điều 82 Luật Xây dựng, cơ quan chuyên môn về xây dựng thông báo bằng văn bản tới chủ đầu tư để thực hiện việc hợp đồng thẩm tra. Chủ đầu tư gửi báo cáo kết quả thẩm tra tới cơ quan chuyên môn về xây dựng quy định tại các Điều 83 Luật Xây dựng để làm cơ sở cho việc thẩm định thiết kế, dự toán xây dựng"

Góp ý:

          - Đề nghị làm rõ nội dung "cơ quan chuyên môn về xây dựng chỉ định tổ chức, cá nhân tư vấn thẩm tra thiết kế, dự toán xây dựng theo quy định tại Khoản 4 Điều 82 Luật Xây dựng" Tuy nhiên, tại Khoản 4 Điều 82 Luật Xây dựng lại có 02 trường hợp là cơ 1) cơ quan chuyên môn về xây dựng mời tổ chức, cá nhân tham gia thẩm định, 2) yêu cầu chủ đầu tư lựa chọn tổ chức, cá nhân để thẩm tra. Vậy, cơ quan chuyên môn về xây dựng chỉ định trong trường hợp nào? cần được làm rõ trong Dự thảo.

          - Đề nghị bỏ từ "các" trước cụm từ Điều 82 Luật Xây dựng và cần làm rõ hơn các nội dung chưa rõ như sau:

          + Một số chủ đầu tư sẽ cho rằng đơn vị tư vấn là cơ quan chuyên môn chỉ định, nên chủ đầu tư không phải theo dõi quá trình thẩm tra của đơn vị tư vấn và không cần báo cáo về kết quả thẩm tra tới cơ quan chuyên môn về xây dựng nữa mà cơ quan chuyên môn về xây dựng tự theo dõi và có văn bản cuối cùng sau khi có báo cáo thẩm tra của đơn vị tư vấn (do cơ quan chuyên môn về xây dựng lựa chọn). Các chủ đầu tư hiễu như vậy sẽ trái với quy định về hợp đồng, vì sau khi cơ quan chuyên môn về xây dựng lựa chọn tư vấn thẩm tra thì chủ đầu tư phải ký kết hợp đồng, quản lý hợp đồng (tức phải quản lý, nghiệm thu...) do vậy, chủ đầu tư phải xác nhận rằng tư vấn thẩm tra đã hoàn thành nghĩa vụ theo hợp đồng hay chưa để báo cáo cơ quan chuyên môn về xây dựng có ý kiến cuối cùng về kết quả thẩm tra. Nội dung này kiến nghị điều chỉnh, làm rõ hơn để các chủ đầu tư thực hiện

          + Ví dụ: Sau khi cơ quan chuyên môn về xây dựng có thông báo bằng văn bản đến chủ đầu tư và nhà thầu có đủ năng lực, có nhu cầu thẩm tra thiết kế để chủ đầu tư và nhà thầu ký kết hợp đồng thực hiện công tác thẩm tra như trên. Chủ đầu tư có trách nhiệm theo dõi và quản lý quá trình thẩm tra của nhà thầu tư vấn (thông qua hợp đồng thẩm tra) và có trách nhiệm báo cáo bằng văn bản cho cơ quan chuyên môn về xây dựng về kết quả thẩm tra của đơn vị tư vấn sau khi nhà thầu tư vấn kết thúc quá trình thẩm tra để cơ quan chuyên môn về xây dựng tổng hợp, có ý kiến cuối cùng.

          + Về chi phí thẩm tra của đơn vị tư vấn: Sau khi cơ quan chuyên môn về xây dựng thông báo bằng văn bản đến chủ đầu tư và nhà thầu tư vấn thẩm tra để ký kết hợp đồng thẩm tra và thực hiện công tác thẩm tra. Tuy nhiên, một số chủ đầu tư sẽ không ký kết hợp đồng vì cho rằng nhà thầu này không phải do chủ đầu tư tổ chức lựa chọn theo Luật đấu thầu (tức không tổ chức thương thảo hoàn thiện hợp đồng, không có quyết định phê duyệt kết quả lựa chọn nhà thầu và không phù hợp với kế hoạch đấu thầu được duyệt (do kế hoạch đấu thầu đưa nội dung thẩm tra thiết kế vào phần không thực hiện hình thức lựa chọn nhà thầu và ghi cơ quan cơ quan chuyên môn về xây dựng thực hiện) nên sẽ không thể thanh toán chi phí thẩm tra cho nhà thầu tư vấn.

          2. Đề nghị bổ sung thêm và Điều 29 trường hợp cơ quan chuyên môn về xây dựng và tổ chức tư vấn cùng thẩm tra. Hiện tại, Thông tư số 75/2014/TT-BTC ngày 12/6/2014 của Bộ Tài chính quy định mức thu, chế độ thu, nộp, quản lý và sử dụng phí thẩm tra thiết kế công trình xây dựng có đưa ra trường hợp này và mức phí cụ thể nhưng Dự tahor Nghị định chưa có chi tiết trường hợp này.

          3. Về thời gian thẩm định: Cần làm rõ trong trường hợp chỉ định đơn vị tư vấn thẩm tra thì thời gian thẩm định nêu trên đã bao gồm thời gian thẩm tra của đơn vị tư vấn hay chưa. Đề nghị nghiên cứu thời gian thẩm định là chung nhất cho tất cả các trường hợp để đảm bảo không gây áp lực cho cơ quan chuyên môn (ví dụ: Đối với công trình 01 thiết kế một bước và nhà ở riêng lẻ thì thời gian cho cơ quan chuyên môn có văn bản lựa chọn tư vấn thẩm tra và nghiên cứu kết quả thẩm tra để có văn bản cuối cùng chỉ 05 ngày là quá ngắn, 02 ngày thẩm định - 15 ngày thẩm tra = 05 ngày)

          4. Về phân loại và phân cấp công trình: Kiến nghị làm rõ hơn loại công trình đê, kè trường hợp nào là công trình giao thông, trường hợp nào là công trình thủy lợi (hiện tại theo Thông tư số 10/2013/TT-BXD ngày 25/7/2013 và Nghị định số 15/2013/NĐ-CP ngày 06/02/2013 thì loại công trình này đang trái ngược nhau)

.

Góp ý dự thảo NĐ QLDA 2010-10-12 15:32:36.026
Người gửi: Nguyễn Phong Hải       Email:hai.np@pvgas.com.vn
Điện thoại: 0907917180       Địa chỉ: 6K3 Nguyễn Thái Học, phường 7, Vũng Tàu

1. Phụ lục I: chưa có các dự án trong lĩnh vực thu gom, vận chuyển khí; xử lý và chế biến khí;

2. Điều 4 - Phân loại dự án đầu tư
Ngoại trừ các dự án đặc thù không phân biệt TMĐT, thì các dự án còn lại phân cấp là quan trọng quốc gia, dự án nhóm A, B, C đều căn cứ vào TMĐT.
Tuy nhiên, TMĐT chỉ được xác định sau khi hoàn thành Báo cáo nghiên cứu khả thi.
Trong khi đó Luật và NĐ lại quy định đối với dự án Quan trọng quốc gia và dự án nhóm A phải lập BC nghiên cứu tiền khả thi.
Đề nghị xem xét/điều chỉnh lại cho phù hợp.

.

Góp ý Dự thảo Thông tư quản lý chất lượng 2010-10-12 15:32:36.026
Người gửi: Trần Minh Chiến       Email:minhchien1978@gmail.com
Điện thoại: 0905003778       Địa chỉ: Sở NN&PTNT Quảng Nam

          1. Cơ bản thống nhất với nội dung Dự thảo Nghị định

2. Đề nghị bổ sung điểm c, khoản 1 Điều 25 của dự thảo (thẩm quyền thẩm định đối với các dự án chỉ yêu cầu lập Báo cáo kinh tế - kỹ thuật sử dụng vốn nhân sách nhà nước)

          3. Về thẩm quyền thẩm định thiết kế đối với các dự án chỉ yêu cầu lập Báo cáo kinh tế - kỹ thuật: Theo quy định tại khoản, Điều 14 thì các công trình gồm a) Công trình xây dựng cho mục đích tôn giáo; b) Công trình xây dựng tượng đài, tranh hoành tráng; c) Công trình lắp dựng biển quảng cáo; và d) Công trình xây dựng mới, sửa chữa, cải tạo, nâng cấp có tổng mức đầu tư dưới 15 tỷ đồng thì chỉ cần lập Báo cáo kinh tế - kỹ thuật. Tuy nhiên, theo quy định tại điểm c, khoản 1, Điều 26 của Dự thảo thì đối với các công trình chỉ yêu cầu lập Báo cáo kinh tế - kỹ thuật được giao cho các phòng chức năng của UBND cấp huyện thẩm định. Nội dung này cần thận trọng hơn bởi:

          - Đối với các công trình sửa chữa các công trình tôn giáo, tượng đài đặc biệt là di tích tranh hoành tráng ... thì cần có sự kiểm soát của cơ quan cấp cao hơn để để có quản lý tổng thể, tránh tình trạng xâm hại đến các công trình này hoặc xây dựng công trình gây phản cảm...

          - Đối với công tác sửa chữa các công trình NN&PTNT, công trình dân dụng, công nghiệp từ cấp III trở lên. Tuy có giá trị đầu tư nhỏ nhưng việc sửa chữa không có đầu tư kỹ có thể thay đổi kết cấu chịu lực chính của công trình và gây nguy hiểm cho công trình. Do vậy cần có quy định chính xác đơn vị thẩm định đối với các loại công trình này để tránh sự cố đáng tiết như trong thời gian qua.  

          4. Về trình tự thực hiện thẩm định dự án, thẩm định thiết kế cơ sở: Đề nghị giao cho Chủ đầu tư gửi hồ sơ lên cơ quan chuyên môn thẩm định dự án, thiết kế cơ sở và sau khi thẩm định thì cơ quan này đề nghị cấp quyết định đầu tư phê duyệt cùng báo cáo kết quả thẩm định của mình.

         5. Đề nghị bổ sung trình tự thẩm định, phê duyệt thiết kế, dự toán sau thiết kế cơ sở.

.

Góp ý cho nghị định về QLDA 2010-10-12 15:32:36.026
Người gửi: Trần Viết Tiệp       Email:Tiep_TV@yahoo.com.vn
Điện thoại: 0913439907       Địa chỉ: 07 Đinh Tiên Hoàng, Buôn ma Thuột, Đắk Lắk

1. Tôi hoàn toàn nhất trí với việc tách rõ nhiệm vụ quản lý nhà nước và quản lý dự án, tuy nhiên việc giao cho người quyết định đầu tư phê duyệt thiết kế kỹ thuật (hoặc BVTC) là không phù hợp và trái với tinh thần cải cách hành chính. Không phù hợp là vì đây là nhiệm vụ quản lý dự án thì nên giao cho Ban Quản lý dự án, không cần thiết vì đã có cơ quan thẩm định là cơ quan tham mưu về QLNN thẩm định rồi thì không cần phải người quyết định đầu tư phê duyệt nữa. Tuy nhiên, cần quy định năng lực Ban Quản lý dự án tăng về năng lực trình độ, không cần thiết phải nhiều người.

2. Trình tự quản lý về tư vấn khảo sát, thiết kế còn chưa nhất quán giữa các điều. Cần quy định rõ ràng nhất quán về trình tự các bước về lập nhiệm vụ khảo sát, thiết kế; lựa chọn nhà thầu; lập phương án khảo sát. . . .

.

Góp ý cho dự thảo Nghị định Quy định về quản lý dự án đầu tư xây dựng 2010-10-12 15:32:36.026
Người gửi: Nguyễn Hữu Nghĩa       Email:huunghiab6@gmail.com
Điện thoại: 0913447451       Địa chỉ: Ban Quản lý D Thuỷ lợi 6, số 112 Hùng Vương, TP. Quảng Ngãi

 

          Nguyễn Hữu Nghĩa

Giám đốc Ban Quản lý Đầu tư và Xây dựng Thuỷ lợi- Bộ NN&PTNT.

ĐT: 0913447451; 055 3824458           Email: huunghiab6@gmail.com

Quảng Ngãi, ngày 05 tháng 10 năm 2014.

 

Ý kiến tham gia dự thảo Nghị định

Quy định về quản lý dự án đầu tư xây dựng

(Do Cục Quản lý HĐXD-Bộ XD cập nhật ngày 26/9/2014)

 

Kính gửi: Cục Quản lý hoạt động xây dựng – Bộ Xây dựng.

 

            Thực hiện đề nghị của Quý Cục về việc tham gia góp ý dự thảo Nghị định Quy định về quản lý dự án đầu tư xây dựng, sau khi đọc kỹ dự thảo trên trang thông tin điện tử của Bộ Xây dựng, tôi nhận thấy so với bản dự thảo trình bày trong Hội thảo ngày 18/9/2014 tại TP. Hồ Chí Minh, bản dự thảo cập nhật ngày 26/9/2014 đã có nhiều cập nhật, hiệu chỉnh. Tuy vậy, bản thân tôi xin có ý kiến tham gia thêm một số nội dung cụ thể như sau:

 

1. Tại Điều 3. Chủ đầu tư xây dựng

             Khoản 1 dự thảo ghi: “Đối với dự án sử dụng vốn ngân sách nhà nước thì chủ đầu tư là Ban quản lý dự án chuyên ngành, Ban quản lý dự án khu vực được thành lập theo quy định tại Điều 63 Luật Xây dựng hoặc cơ quan, tổ chức được người quyết định đầu tư giao quản lý sử dụng vốn để đầu tư xây dựng phù hợp với quy định của pháp luật ngân sách nhà nước.”

            Theo Điều 63 Luật XD thì các Ban quản lý dự án chuyên ngành, Ban quản lý dự án khu vực do “Bộ trưởng, Thủ trưởng các cơ quan ngang bộ, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp huyện, người đại diện có thẩm quyền của doanh nghiệp nhà nước quyết định thành lập

            Như vậy, theo quy định tại khoản 1 nêu trên thì tất cả các Ban QLDA chuyên ngành, Ban QLDA khu vực không phân biệt do ai thành lập đều có thể được giao làm chủ đầu tư các “dự án sử dụng vốn ngân sách nhà nước”.

Nhưng ở khoản 2 Điều 3 của dự thảo ghi:

            Đối với dự án sử dụng vốn nhà nước ngoài ngân sách thì chủ đầu tư là Ban quản lý dự án chuyên ngành, Ban quản lý dự án khu vực do tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước quyết định thành lập hoặc cơ quan, tổ chức quản lý sử dụng công trình được người quyết định đầu tư giao quản lý sử dụng vốn để đầu tư xây dựng.”

            Như vậy, theo quy định này thì các Ban quản lý dự án chuyên ngành, Ban quản lý dự án khu vực do Bộ trưởng, Thủ trưởng các cơ quan ngang bộ, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp huyện sẽ không thể làm chủ đầu tư các dự án sử dụng vốn nhà nước ngoài ngân sách?

            Điều này không phù hợp với thực tế hiện nay và có phần chưa phù hợp quy định của Luật Xây dựng:

            - Theo Điều 7 Luật Xây dựng, không có khoản nào phân biệt riêng Chủ đầu tư của “dự án sử dụng vốn ngân sách nhà nước” với “dự án sử dụng vốn nhà nước ngoài ngân sách”;  khoản 2 Điều 7 LXD đã ghi chung rằng “Đối với dự án sử dụng vốn ngân sách nhà nước và vốn nhà nước ngoài ngân sách, chủ đầu tư là cơ quan, tổ chức được người quyết định đầu tư giao quản lý, sử dụng vốn để đầu tư xây dựng”;

            - Theo Điều 63 Luật xây dựng cũng không có khoản nào phân biệt riêng Chủ đầu tư của “dự án sử dụng vốn ngân sách nhà nước” với “dự án sử dụng vốn nhà nước ngoài ngân sách”. Khoản 2 Điều 63 Luật XD cũng chỉ ghi chung là “Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng chuyên ngành, Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng khu vực được giao làm chủ đầu tư một số dự án và thực hiện chức năng, nhiệm vụ quản lý dự án, tham gia tư vấn quản lý dự án khi cần thiết”;

            - Thực tế hiện nay, các Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng chuyên ngành, Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng khu vực được các Bộ trưởng, Thủ trưởng các cơ quan ngang bộ,... thành lập theo quy định tại Điều 63 Luật Xây dựng vẫn đang được giao làm chủ đầu tư các dự án sử dụng vốn trái phiếu Chính phủ, vốn ODA... do các Bộ là người quyết định đầu tư.

            Do vậy, đề nghị xem xét sửa đổi các khoản trong Điều 3 dự thảo Nghị định này theo hướng gộp khoản 1 và khoản 2 thành:

 Đối với dự án sử dụng vốn ngân sách nhà nước và vốn nhà nước ngoài ngân sách thì chủ đầu tư là Ban quản lý dự án chuyên ngành, Ban quản lý dự án khu vực được thành lập theo quy định tại Điều 63 Luật Xây dựng hoặc cơ quan, tổ chức được người quyết định đầu tư giao quản lý sử dụng vốn để đầu tư xây dựng phù hợp với quy định của pháp luật ngân sách nhà nước.”

2. Về vốn Nhà nước: Thực chất thì “vốn ngân sách nhà nước” và “vốn nhà nước ngoài ngân sách” chung quy cũng là vốn nhà nước mà đã là vốn nhà nước thì tất cả phải tuân thủ các quy định về quản lý dự án đầu tư xây dựng như nhau, chỉ khác một ít trong quản lý chi phí dự án với các loại vốn nhà nước ngoài ngân sách có thêm một số quy định về giải ngân, thanh toán...(ví dụ: vốn trái phiếu Chính phủ có một số quy định thêm của Bộ Tài chính về quản lý chi phí dự án đầu tư; vốn ODA có thêm một số quy định riêng theo Hiệp định với nhà tài trợ...). Việc phân chia hai loại nguồn vốn trên trong quy định về quản lý dự án đầu tư xây dựng tạo nên các quy định nội dung trùng lắp; thể hiện ở nhiều nội dung giống hệt nhau nhưng vẫn chia ra làm cho Nghị định trở nên quá dài, thiếu khoa học; cần nên xem xét gộp lại thành quy định chung cho các dự án sử dụng vốn nhà nước (cả vốn ngân sách và ngoài ngân sách) như thời gian trước đây.

            Cụ thể một số quy định trong dự thảo Nghị định lần này như sau:

            - Nội dung khoản 2 và khoản 3 Điều 11 dự thảo NĐ hoàn toàn giống hệt nhau; đề nghị gộp chung thành “Đối với dự án sử dụng vốn nhà nước”;

            - Nên tách nội dung vốn ngân sách ngoài nhà nước trong Khoản 2 Điều 12 đưa về gộp với khoản 1 Điều 12 thì phù hợp hơn vì việc quản lý đầu tư xây dựng đối với các dự án án sử dụng “vốn nhà nước ngoài ngân sách” gần giống với các dự án “sử dụng vốn ngân sách nhà nước” hơn là với các dự án “sử dụng vốn khác”; tương tự cho những điều khoản khác có phân biệt nguồn vốn (ví dụ: mục b, mục c, khoản 3 Điều 12...)

            - Tương tự nội dung giữa Điều 25 và Điều 26 cũng quá giống nhau, nên nghiên cứu gộp lại thành một Điều chung cho cả vốn NSNN và vốn NN ngoài NS; trong đó, khoản 1 gồm 3 điểm a, b, c như dự thảo để quy định chung và chỉ nêu thêm điểm d quy định đối với dự án sử dụng vốn NN ngoài NS để thực hiện thẩm định nội dung c của khoản 2 và khoản 3 trong Điều 58 của Luật XD  là đủ.

            Trường hợp việc gộp Điều 25 và 26 không được thực hiện thì cần lưu ý thêm, khoản 2 Điều 25 dự thảo nêu:

“b) Các Sở quản lý công trình xây dựng chuyên ngành chủ trì tổ chức thẩm định thiết kế kỹ thuât, dự toán trường hợp thiết kế ba bước; thiết kế bản vẽ thi công, dự toán trường hợp thiết kế hai bước đối với công trình cấp II trở xuống, trừ các công trình quy định tại Điểm a, Điểm c Khoản này;”

            Nhưng trong khoản này thiếu điểm c (trong dự thảo trình bày ngày 18/9/2014 thì vẫn có); đề nghị xem lại để bổ sung vì rõ ràng Ủy ban nhân dân cấp huyện vẫn có thể là người quyết định đầu tư các dự án sử dụng vốn ngân sách nhà nước;  và nội dung điểm này cũng phù hợp với điểm d, khoản 2 Điều 11 dự thảo NĐ lần này.

            Nói chung về phần này, chúng tôi đề nghị nên nghiên cứu gộp chung loại “các dự án sử dụng vốn NSNN” và loại “các dự án sử dụng vốn NN ngoài NS” thành một nhóm “các dự án sử dụng vốn nhà nước” để phân biệt với nhóm “các dự án sử dụng vốn khác”; trong các nội dung quy định về quản lý dự án đầu tư xây dựng đối với nhóm thứ nhất ngoài những quy định giống nhau thì có thêm quy định riêng cho loại dự án sử dụng vốn nhà nước ngoài ngân sách, nếu có sự khác biệt. Như vậy, Nghị định sẽ được gọn gàng, khoa học hơn.

3. Điều 44. Hồ sơ đề nghị cấp giấy phép xây dựng theo giai đoạn:

 Điểm c, khoản 2 nêu:  

“c) Bản vẽ thiết kế xây dựng theo quy định hoặc văn bản thẩm định thiết kế của cơ quan chuyên môn về xây dựng (theo từng giai đoạn);”

Cần làm rõ thêm trong Thông tư hướng dẫn sau này về ý nghĩa chữ “hoặc” trong câu trên; có phải nếu đã có văn bản thẩm định thiết kế của các cơ quan chuyên môn về xây dựng thì không cần có (nộp) bản vẽ thiết kế xây dựng theo quy định?

            Các nội dung khác thống nhất như dự thảo.

            Đây là một số suy nghĩ cá nhân, kính gửi Quý Cục tham khảo, xem xét. Nếu có gì chưa đúng, mong được thông cảm.

Trân trọng./.

.

góp ý dự thảo QLDA 2010-10-12 15:32:36.026
Người gửi: Nguyễn Văn Tiến       Email:tienxdvp@gmail.com
Điện thoại: 0989245638       Địa chỉ: vĩnh phúc

Qua nghiên cứu dự thảo nghị định vê quản lý dự án đầu tư xây dựng tôi xin tham gia ý kiến một số vấn đề như sau:

1. Tại khoản 1 điều 9 “chủ đầu tư hoặc tổ chức được giao nhiệm vụ chuẩn bị dự án quan trọng Quốc gia, dự án nhóm A thì phải lập Báo cáo nghiên cứu tiền khả thi nhưng tại khoản 1 điều 10”.

Theo tôi còn phải nói rõ đối với dự án nhóm nào thì phải lập nghiên cứu tiền khả thi và dự án nhóm nào không phải lập để người đọc dễ hiểu?

2. Tại mục C khoản 2 điều 11 “Sở Xây dựng chuyên ngàng thẩm định dự án từ nhóm B chở xuống do UBND cấp tỉnh quyết định đầu tư vậy đối với những dự án thiết kế 2 bước do UBND cấp huyện, cấp xã quyết định đầu tư thì ai thẩm định”.

3. Tại mực A khoản 1 điều 12 nếu để người quyết định đầu tư gửi lên sở cho cơ quan chuyên môn thì tôi thấy không hợp lý, theo tôi là để chủ đầu tư gửi hồ sơ đến cơ quan chuyên môn để thẩm định.

4. Tại mục B khoản 3 điều 14 theo tôi để dễ hiểu và rút ngắn thủ tục hành chính thì thay “cơ quan chuyên môn thuộc cấp quyết định đầu tư” thay “chủ đầu tư” có trách nhiệm trình cấp quyết định đầu tư phê duyệt.

5. Tại khoản 3 điều 15 theo tôi nên đổi việc xin ý kiến người quyết định đầu tư thành “nếu dự án có điều chỉnh mà không làm thay đổi mục tiêu đầu tư địa điểm và không vượt tổng mức đầu tư thì chủ đầu tư tự quyết định, còn lại các trường hợp khác phải xin ý kiến của người quyết định đầu tư” để rút ngắn thời gian thực hiện dự án.

6. Tại khoản 5 điều 18 quy định Ban QLDA được phép quản lý các dự án khác (theo tôi hiểu là có thể đi làm thuê cho các chủ đầu tư khác) được đó là một ý tưởng rất tốt và để thực hiện được nó tôi xin có ý kiến là: Tại khoản 3 điều 18 quy định Ban QLDA là đơn vị sự nghiệp có thu cấp I, tự chủ về tài chính có nghĩa vụ thuế như các trung tâm của Sở Xây dựng. Để vừa đáp ứng được tính giảm biên chế, không phụ thuộc ngân sách nhà nước vẫn đảm bảo bộ máy đủ chuyên môn (trong ban có 1 số là công chức, viên chức còn lại là hợp đồng sản phẩm)

Để đáp ứng được điều kiện trên thì tại khoản 1 điều 18. Ban QLDA được thành lập để quản lý đầu tư trên toàn huyện, ngàng và tỉnh. Ví dụ tại Vĩnh Phúc tất cả các huyện đều có ban QLDA , và bây giờ các sở cũng đang thành lập các ban QLDA để quản lý các dự án thuộc ngàng mình như giáo dục, y tế, ....

7. Theo tôi tại điều khoản 21 chỉ nên để chủ đầu tư tự quản lý dự án đối với những dự án có giá trị dưới 1 tỷ vì đã có các Ban QLDA chuyên ngành rồi thì không nên để ban kiêm nghiệm nhất là đối với các xã phường, ban kiêm nghiệm đã không có chuyên môn lại còn toàn bộ thủ tục ủy thác cho nhà thầu xây lắp làm từ A>>Z, đây là thực tế đang diễn ra.

8. Nghị định chưa rõ về UBND cấp xã phường có được làm chủ đầu tư hay không vì phần lớn là không có chuyên môn và khi đã có Ban quản lý chuyên trách cấp huyện rồi thì cấp xã phường có được làm nữa không?

9. Việc thuê tư vấn QLDA: Theo tôi lên hạn chế tối đa thuê tư vấn, vì tư vấn không phải là quản lý nhà nước lên rất khó có trách nhiệm tối đa và đã có Ban QLDA chuyên ngàng rồi thì không nên để tư vấn QLDA.

10. Tại khoản 1 điều 25 theo tôi

- Cơ quan quản lý nhà nước đã thẩm định thiết kế cơ sở rồi thì có cần thẩm định thiết kế thi công nữa hay không hay chỉ cần thẩm tra là đáp ứng được, rút ngắn thời gian thực hiện dự án.

- Phòng chuyên môn thuộc UBND cấp huyện thẩm định với những dự án nào? (Vì các Sở chuyên ngàng không thể thẩm tra dự toán hết được, công việc thâmt tra của các sở sẽ bị quá tải không đáp ứng được tiến độ, đơn vị sự nghiệp thuộc sở cũng là đơn vị  tư vấn).

- Tại khoản 2 điều 25 người quyết định đầu tư khi đã phê duyệt dự án đầu tư thì bước bản vẽ thi công chủ đầu tư phê duyệt thì tốt hơn để rút ngắn thời gian thực hiện dự án.

11. Chủ đầu tư, tại khoản 1 điều 30 được gửi hồ sơ đến cơ quan chuyên môn nhưng tại mục a khoản 1 điều 12 người gửi hồ sơ là người quyết định đầu tư là chưa hợp lý. Theo tôi nên để “Chủ đầu tư là người gửi hồ sơ”

12. Về chứng chỉ hành nghề:

- Tại điều 47 của nghị định chưa rõ đối tượng được cấp: Xin hỏi công chức, viên chức có được cấp chứng chỉ không? Các cán bộ viên chức tại đơn vị sự nghiệp có được cấp chứng chỉ không?

13. Điều kiện đối với các tổ chức tư vấn là rất tốt vì tổ chức tư vấn mạnh, đáp ứng được điều kiện trên sẽ giảm bớt sai sót trong quan trình đầu tư dự án. Song tôi có ý kiến đối với ban QLDA chuyên ngành, đây là ban chuyên trách, là chủ đầu tư quản lý nguồn vốn nhà nước vì vậy cần quy định rõ về cơ cấu tổ chức, cơ chế tài chính, số lượng cần thiết về cán bộ chuyên môn để hoạt động hiệu quả, hạn chế việc thành lập ban kiêm nghiệm và hạn chế cấp xã làm chủ đầu tư.

    

      Trên đây là một số ý kiến tham gia với Ban soạn thảo nghị định.

Xin cám ơn các đồng chí!

.

góp ý dự thảo QLDA 2010-10-12 15:32:36.026
Người gửi: Nguyễn Văn Tiến       Email:tienxdvp@gmail.com
Điện thoại: 0989245638       Địa chỉ: vĩnh phúc

xin góp ý kiến dự thảo có văn bản gửi kèm theo

.

Gop y du thao nghi dinh ve QLDA dau tu xay dung 2010-10-12 15:32:36.026
Người gửi: Ngô Thế Điệp       Email:ngothediep@gmail.com
Điện thoại:       Địa chỉ:

 

Góp ý dự thảo Nghị định về quản lý dự án đầu tư xây dựng:

 

Xin góp ý về Mục 2- Tổ chức quản lý dự án đầu tư xây dựng:

 

1. Thực tế  hiện nay có trường hợp như sau: Công ty TNHH một thành viên nhà nước (hoặc Công ty cổ phần mà nhà nước chiếm cổ phần chi phối) là chủ đầu tư dự án nhóm B hoặc C và lớn hơn 5 tỷ đồng, với nguồn vốn tự có của doanh nghiệp hoặc kết hợp (tự có + đi vay). Chủ đầu tư có đủ điều kiện để trực tiếp quản lý thực hiện dự án và thành lập ban QLDA (không cần thuê tư vấn QLDA). Trường hợp này sẽ áp dụng hình thức ban quản lý dự án như thế nào? Trong dự thảo nghị định chưa thấy đề cập rõ về trường hợp này.

 

2. Đề nghị có quý định về hình thức Ban QLDA cho các trường hợp nêu trên. Đề xuất có thể áp dụng hình thức Ban QLDA khu vực hoặc Ban QLDA chuyên ngành cho các Công ty (chủ đầu tư) 100% vốn nhà nước hoặc Công ty mà nhà nước chiếm cổ phần chi phối, do các Công ty (chủ đầu tư) đó thành lập (ngoài quy định tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước như quy định trong dự thảo).

 

   Xin trân trọng cám ơn.

 

.